HÀNH TRÌNH TỚI KINH ĐÔ
Tháng giêng, năm Nhâm Dần, niên
hiệu Cảnh Hưng1
thứ 43 (1782), trời xuân sáng sủa, hoa cỏ đua tươi, mấy cây trước sân nhà U
trai2
của tôi, đang độ ra hoa kết quả, ngậm hương mang tuyết, dáng như Tương Phi3 đứng chênh vênh
giữa đám giao long4 rét mướt. Lần bước mà đi, đều
thấy mùi hương lạ thoáng bay. Trong mảnh ao ở vườn phía Tây, cá bơi tung tăng đớp
ánh trăng dập dờn mặt sóng. Chim oanh réo rắt, bay qua bay lại nơi um tùm bóng
cây. Có lúc tôi dắt trẻ nhỏ lên núi, phóng tầm mắt nhìn ráng khói nơi xa, thỏa
hứng vui chơi, hoặc buông câu ở đình Nghinh phong5, hoặc gảy đàn dưới mái Tịch
huyên6,
hoặc xem sách ở đình Tối quảng7, hoặc đánh cờ ở nhà Di chân8 rồi ngủ. Tùy ý tìm vui, ngày
thường ngà ngà say rồi về.
(Ảnh này không có trong văn bản gốc)
Ngày mười hai, thấy hai người sai dịch của quan Thự trấn9 bản hạt đến nhà đưa thư và bảo:
- Quan lớn tôi có lời mừng cụ.
Tôi chưa biết việc gì, bóc thư ra
xem, thấy có hai đạo10
văn thư11.
Một đạo sao chép lời chiếu chỉ truyền rằng: "Quan nội sai Binh phiên Trạch
trung hầu12,
vâng chiếu chỉ truyền cho quan Thự trấn xứ Nghệ An là Côn lĩnh hầu, tìm một người quê ở xã Liêu Xá, huyện
Đường Hào, con quan cố Thượng thư họ Lê tên là Lê Hữu Trác, tục gọi Chiêu Bảy,
nay dời về quê mẹ là xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn13. Phải dò hỏi họ tên tìm cho
được người rồi sai lính trấn tức khắc dẫn ngay tới Kinh đợi mệnh.
Nay chỉ truyền
Ngày 29 tháng 11 năm Cảnh
Hưng thứ 42
Một đạo nữa là thư tay của quan
Thự trấn viết mừng. Đại ý nói: "Kẻ học trò quê mùa, một sớm tên đạt tới cửu
trùng, thực là tiền đồ muôn dặm, khôn xiết vui mừng". Lại nói: "Kẻ sĩ
được mệnh vua, không đợi có xe ngựa, phải tức khắc lên đường. Đến trấn Vĩnh
Dinh14
đã có lính trấn sẵn sàng chờ ngày cùng đi".
Người sai dịch lại nói rằng:
– Việc này do quan Chánh đường15 thấy Đông cung
vương thế tử16
mắc bệnh nặng đã lâu, nên tiến cử cụ. Chuyến đi này không phải chuyện thường, cụ
phải ngày đêm gấp đường mà đi là hay hơn cả.
Tôi thấy công việc quan trọng, vô
cùng lo sợ, ngơ ngẩn hồi lâu. Khi người nhà biết chuyện, kẻ hiểu tôi thì lo dùm
cho tôi, kẻ không hiểu tôi thì mừng cho tôi. Mọi người bàn tán xôn xao, khỏi phải
kể ra đây.
Số là bốn năm năm trước đây, quan
Chánh đường trấn thủ châu Hoan17, từng có lần mời tôi chữa thuốc, đối đãi vào bậc
khách quý, ngồi thì ngồi cùng chiếu, ăn uống rất sang trọng. Sau đó, vì có công
dẹp giặc, nên ông ta được vời về triều giữ ngôi Tam công18, được chúa tin
dùng ít ai sánh kịp. Tôi biết chuyện này, mấy năm liền vẫn canh cánh bên lòng rất
lấy làm lo ngại, thường có lúc than thở với học trò rằng:
– Ta tất không tránh khỏi một
phen vất vả lên kinh, rồi có lúc sẽ phải bận rộn nơi đất chúa mà phụ tinh hoa cỏ
cũ chốn núi non xưa.
Hôm nay, việc xảy ra như thế này, tôi rất ân hận rằng chưa ẩn mình vào được một nơi thực sâu kín vậy.
Nhưng lại nghĩ rằng ông Chánh đường
có cái tài của Chu Công19,
đối với kẻ sĩ trong thiên hạ thường khiêm tốn trọng vọng, huống chi là đối với
ta ư.
Có người khuyên giải tôi:
– Cụ vốn là người súc tích, uyên
thâm về cái học Tính và Mệnh, nếu không là vị tướng giỏi thì cũng phải là bậc
lương y. Lâu nay, cụ từng ẩn dấu vẻ đẹp, lấp che ánh sáng, ưa thích thói cao
khiết. Nhưng bây giờ cửu trùng đã biết tới, bốn biển đã nghe tên, há chẳng phải
là việc mà kẻ trượng phu đáng làm hay sao.
Tôi bùi ngùi đáp rằng:
– Vật kia vì sắc đẹp mà bị người
ta tìm, lấy cây nọ vì có hoa mà bị người ta ngắt hái, con người vì danh suông
mà mắc lụy về danh. Sao bằng trên cái danh đi để được thú vui có hay hơn không.
Hôm ấy, tôi cứ rầu rĩ cả buổi. Suốt
đêm thao thức, lòng tự nhủ lòng rằng:
– Mình thủa tuổi trẻ, mài gươm đọc
sách, mười lăm năm trôi nổi sông hồ, chả làm nên trò trống gì. Sau đấy, đã coi
công danh như đồ bỏ đi, dựng lều ở Hương Sơn, thờ mẹ, đọc sách, thảnh thơi theo
đạo của Hiên Viên, Kỳ Bá20 giữ mình giúp người, đã tự cho là đắc sách. Nào ngờ, một sớm
vì chút hư danh mà sinh ra phiền lụy thế này.
Rồi lại tự an ủi rằng:
– Mình lao tâm khổ tứ về đạo làm
thuốc đã hơn ba chục năm trời nay, mới viết được bộ sách "Tâm lĩnh"21, không dám tư
túi truyền riêng cho ai, mà muốn được công bố với đời. Song hiểm nỗi, sức thì
mong manh mà việc thì nặng nề, khó lòng tự mình làm lấy được. Nếu như quỷ thần
thông cảm tấm lòng thành, biết đâu trong chuyến đi này lại có dịp may mắn cũng
chưa biết chừng.
Suy đi nghĩ lại, bất giác thấy
vui ra. Bèn tiếp đãi hai người sai dịch tử tế, và viết thư trả lời quan Thự trấn.
Quan Thự trấn vốn chơi thân với
tôi, nên ông giúp tôi viết một tờ "khải"22 tâu lên nói rõ việc tôi tuổi
già sức yếu xin miễn cho việc lên Kinh. Vài ngày sau, quan Thự trấn lại cho sai
dịch đem công văn tới. Trong đó có nói: "Bản chức đã sai người đưa một chiếc
thuyền theo đường sông tới đón ở trạm. Cụ nên gấp rút lên đường. Nếu để chậm trễ
e có điều liên lụy".
Con cái trong nhà cũng hết sức
khuyên van. Tôi biết tình thế không dùng dằng được nữa, lập tức báo tin cho các
học trò thuốc tới họp mặt.
Ngày mười bốn, tôi làm lễ cáo tế
tiên thánh, hát một chầu. Ngày mười sáu, các học trò lại mượn cớ tôi sắp đi xa
cho bày một chầu hát nữa để mừng.
Ngày mười bảy, tôi thu xếp hành lý, sách vở nửa gánh, gươm đàn một túi, xuống thuyền theo đường thủy nhằm phía trạm Vĩnh Dinh mà đi. Bấy giờ, khách khứa đầy nhà, người thì xin đơn lấy thuốc, người thì tiễn chân, dùng dằng lưu luyến. Mãi tới lúc mặt trời sắp lặn mới bắt đầu động chèo.
Tôi ngồi trong khoang thuyền, ngắm
cảnh sinh tình, lòng dạ man mác không sao nguôi được, bèn ứng khẩu làm một bài
thơ:
Phiên âm:
Lưu thủy hà thái cấp
Hành nhân ý dục trì
Quần sơn phân ngạn tẩu
Nhất trạo phách yên phi
Sa nhạn thân như tống
Du ngư cấp dục truy
Vân giang Hương lĩnh thụ
Thái bán dĩ tà huy
Dịch thơ:
Nước trôi sao quá gấp
Người đi ý muốn chầy
Chia bờ hàng núi chạy
Rẽ khói một chèo bay
Nhạn bãi thân đưa tiễn
Cá bơi chừng theo ngay
Mây giăng cây Hương lĩnh
Quá nửa ánh chiều dấy
Đêm ấy thuyền đi dưới trăng, làng
xóm ven sông vắng lặng. Thỉnh thoảng có tiếng chó sủa bóng thuyền. Một vầng
trăng sáng, cuồn cuộn sông trôi. Hai bờ con nước trào lên đón thuyền khách.
Chùa xa chuông vẳng đến. Sương tàn mờ lối cây. Mấy đốm lửa chài heo hắt lạnh. Một
đôi cò đứng lặng thinh. Các học trò cùng đi, đều mượn chén tiêu sầu. Nhân thể,
tôi cũng làm một bài thơ để dãi tỏ tâm tình:
Phiên âm:
Nhất giang yên thủy tĩnh
Khách tứ mãn quan hà
Phong trọng chinh phàm cấp
Sương thâm khứ nhạn tà
Hàn sơn lai dạ khánh
Viễn phố xuất ngư ca
Kim tịch do như thử
Minh triều thả nại hà.
Dịch thơ:
Một giải khói nước lặng
Tự khách ngợp quan hà
Gió mạnh buồm giong cấp
Sương dầy bóng nhạn sa
Núi lạnh chuông đêm vẳng
Bãi cách tiếng chài ca
Đêm nay còn như thế
Sớm mai rồi sao a.
Gà gáy thì tới Vĩnh Dinh buộc
thuyền đầu bến, nghỉ lại. Sáng sớm ngày mười tám, lên bờ, vào thăm quan Thự trấn.
Ông đợi tôi đã mấy ngày, nhưng vì nhà có giỗ bố, nên hôm nay đã về quê, chỉ để
lại mấy người thuộc hạ sắp đặt lính tráng và gửi lại năm quan tiền làm tiền ăn
dọc đường. Mấy người thuộc hạ nói lại với tôi:
– Quan Thự trấn vì có giỗ phải về nhà, không được gặp cụ, nên gọi là có chút lễ mọn, xin cụ thể tình cho.
Quan Thự trấn lại sai quan Văn
thư (một chức quan hàng phủ) đem hai chục người lính và các đồ quân nhu đi theo
hộ tống.
Ngày hai mươi, quan Văn thư sửa
soạn hành trang lên đường. Vì bọn lính theo hầu chưa lo đủ lương ăn, nên họ phải
chạy vạy vay mượn thêm. Do đó, buổi chiều mới đi được.
Chiều tối tới trạm xã Kim Khê
(Quán Mi), quan Văn thư cho sửa lễ vật cúng ở đền xã này, và bày một tiệc hát,
mời tôi tới dự. Lúc này, linh thần đang giáng vào cô đồng. Cô đồng lắc lư phán
bảo... Có người nói với tôi rằng:
– Thánh mẫu rất linh thiêng, báo ứng
không sai điều gì bao giờ. Chuyến này cụ lên Kinh, nếu có cần xin gì thì tới mà
cầu.
Tôi nói:
– Phàm người ta đã cầu xin là có
mong muốn được cái gì đây. Tôi nay đã không mong muốn điều gì, thì cầu xin để
làm chi.
Cô đồng nghe thấy tôi nói thế, tủm
tỉm cười. Quan Văn thư cùng nhìn tôi rồi cười to. Nửa đêm, tiệc tan, mọi người
đều về trạm.
Ngày hai mươi mốt, chúng tôi khởi
hành rất sớm. Lúc này mưa dầm rả rích. Cả toán người đi lướt thướt rét mướt.
Trước mắt, hàng nghìn núi non chon von, đường đá gập ghềnh. Tôi thấy đường sá lầy
lội vất vả, bất giác cất tiếng đọc rằng:
Nam vọng thiên sơn như đại sắc
Sầu quân khách lộ tại kỳ trung
Dịch thơ:
Sắc tràm nghìn núi phương Nam ấy
Đường khách buồn ai giữa chặng đường
Đường đi về phía núi Cấm. Sang đò
sông Cấm23 đến Kênh Sắt. Lúc này hơi bốc ở rừng, sa mù ở biển, núi non
mịt mùng. Thực là một trăm sáu ngọn núi mê man. Chẳng biết có nhà sư nào tới chốn
đây không? Cách nhau năm bước đã không nom rõ một vật gì rồi. Chỉ còn nghe tiếng
vượn kêu, chim hót, giống hệt như cảnh đang sống trong mây.
Nhìn cảnh khói mây, núi non mờ mịt,
có nhiều thú vị. Trước cảnh sinh tình, lòng riêng bổi hổi, thầm nghĩ mình đã ba
chục năm trời nay, một đời danh lợi, phó mặc cho dòng nước trôi, ngày tháng
dong chơi chốn rừng núi, tự cho là thảnh thơi đắc sách. Ai ngờ, cái tâm tuy
không mắc vào chốn danh lợi, nhưng cái thân lại vướng vào vòng danh lợi. Chỉ vì
mình không thể làm một kẻ đi ở ẩn thực kỹ nên mới đến nông nỗi như thế này.
Nhân cảm hoài làm một bài thơ:
Phiên âm:
Độn thế tòng y dưỡng nhất chân
Bất tri vi phú khởi tri bần
Lâm tuyền dục liễu tam sinh đạo
Luân bột24 nam tử vạn lý thân
Bán dẫm yên hà lao dịch mã
Mãn sơn vân hạc tống chinh nhân
Hư danh tự chủy vô tha bí
Hoàng khủng sơ cuồng đối thánh
quân
Dịch thơ:
Học thuốc, xa đời, giữ chữ chân
Giàu sang không biết biết chi bần
Ba sinh rừng suối mong tròn đạo
Muôn dặm vua vời phải dấn thân
Nửa gánh khói mây rầu ngựa trạm
Đầy non vượn hạc tiễn chinh nhân
Danh suông tự thẹn không gì quý
Lo sợ ngông cuồng đối thánh quân
Chiều tối hôm đó tới chợ Đông Lũy25 nghỉ lại. Tôi
đang sắp đi nằm nghỉ thì thấy một người khăn áo chỉnh tề, bưng một mâm tôm biển
đặt trước giường, rồi cúi đầu vái chào. Tôi hỏi đến có việc gì? Người ấy nói:
– Con là lính của quan Thự trấn.
Quê vợ con ở đây. Con có đứa con lên tám tuổi, bị cảm nóng lạnh từ mấy tháng
trước, nay mới hơi dờ dờ. Đêm trước cháu ra đầu hè đi đái, bỗng dưng bị ngất mê
đi. Các thầy lang đều chữa về chứng cảm gió, bây giờ chân tay đã co duỗi được,
nhưng mình mấy cháu vẫn nóng hâm hấp, mắt cứ mở trừng trừng, mê man không biết
gì mong cụ rủ lòng thương xót cứu giúp cho cháu bé.
Tôi đoán là cháu bé này khí âm
chưa lành lại bị sốt nóng lạnh từ lâu nên âm dương đều bị tổn thương. Mặc dù bị
phong tà, nhưng chính là cái gốc đã hư mà người chữa không biết vun đắp cái gốc,
lại dùng nhiều thuốc chữa cảm gió. Âm càng hao tổn thì hỏa càng bùng bùng bốc
lên, cho nên sinh ra hen, còn mắt thì do gân khô nên càng ra. Bèn lấy bài thuốc
"Lục vị" bỏ vị Trạch tả, thêm cao Ban long26 và Mạch môn sắc nước cho uống.
Sáng hôm sau, người lính ấy tới
nói rằng:
– Sau khi cháu uống thuốc thì
nóng bớt một nửa, người đã hơi tỉnh tỉnh, bụng thấy đói đòi ăn, và đã ăn được
ít cháo loãng.
Anh ta lại nói thêm:
– Trong làng có mấy nhà khá giả,
thấy thằng cháu nhà con được chữa khỏi nên cũng đến đây xin thuốc cụ.
Tôi sợ công việc chậm trễ, bèn
dùng bài "Bảo vị khí" cho uống. Rồi cho tùy tòng tới nói với quan Văn
thư cho đi trước, và hẹn nhau gặp ở trạm Hoàng Mai27. Ông này vì cũng chưa xong
việc công, còn muốn lưu lại ở đây, nên bằng lòng ngay.
Ngày hai mươi hai, tôi cùng tùy
tòng đi trước. Nhìn ra mé tây, một dải núi non liên tiếp, ẩn ẩn hiện hiện trong
đám mây trắng. Dọc đường đi lại thấy có mấy ngọn núi nhỏ đứng tách rời ra. Ánh
chiều trắng vàng chen nhau nhuộm đầy cánh đồng. Đi đến Long Sơn28, thấy thế đất
như hình vòng cung, cổ thụ um tùm, mát dâm rất thích, lại có những tảng đá hình
như cái gác mà thấp, xếp rất đều đặn. Tôi bảo những người khiêng cáng dừng lại
nghỉ ngơi, dạo chơi một lát rồi làm một bài thơ đề vào vách đá:
Phiên âm:
Y sơn cương tác tự
Bàng thạch giá sơn chung
Tế vũ miêu xuân thảo
Minh hà lạc văn tùng
Nhân ngâm tàn chiếu lý
Điểu ngữ loạn lâm chung
Phụng chiếu xu hành dịch
Cần lao tiếu Lãn Ông
Dịch thơ:
Chùa dựng bên gò núi
Vách đá gác lầu chuông
Mưa xuân tươi ánh cỏ
Ráng chiều đọng cành thông
Thơ ngâm trong nắng nhạt
Chim kêu rối giữa rừng
Vâng chiếu đường dong duổi
Vất vả cười Lãn Ông
Đề thơ xong, lên cáng, bước rảo
mà đi. Tối, tới trạm Hoàng Mai trọ lại. Chưa thấy quan Văn thư đến. Sáng hôm
sau tôi bảo đoàn cứ đi. Mãi trưa, quan Văn thư mới theo kịp – ông ta nói rằng:
– Vì việc lấy lính ở các huyện để
chuyển vận hành lý còn thiếu, tôi định đốc thúc chọn thêm mấy người nữa tăng việc
khiêng gánh và đi cho mau.
Tôi nói:
– Đoàn của chúng ta cũng chả có
gì cồng kềnh cho lắm, hà tất ông phải băn khoăn tới việc đó.
Ngày hai mươi ba, đi từ sáng sớm
tới cầu Kim Lan. Mọi người nhìn ra phía ngôi đền ở ven biển rồi đứng lại bái vọng.
Quan Văn thư hỏi:
– Nghe nói đền này thờ một vị thần
thiêng nhất ở trấn Nghệ An. Tôi vì ở xa tới nên chưa rõ sự tích cho lắm.
Tôi nói:
– Năm xưa, tôi đã từng đi qua nơi
đây, có hỏi chuyện các cụ già. Các cụ có kể lại cho biết dẫu câu chuyện truyền
miệng có sai lạc đi, nhưng so với sử sách vẫn đúng. Sử Tống29 có chép rằng sau
khi đi đánh nhau với Kim30
bị thua, Trương Thế Kiệt cõng vua Đế Bính chạy trốn ra biển, rồi bị sóng to gió
lớn thuyền đắm nên chết đuối cả. Hoàng hậu và hai cô công chúa bám lấy ván thuyền
và trôi dạt vào bờ. Có người trong làng trông thấy liều mình cứu được. Sau người
cứu vớt này sinh lòng mờ ám, hoàng hậu nghiêm sắc mặt cự tuyệt. Người kia xấu hổ
quá, nhảy xuống biển chết. Hoàng hậu than rằng: "Ta nhờ người ấy mà được sống,
bây giờ người ấy lại vì ta mà chết. Vậy có lẽ nào ta lại sống một mình ư".
Bèn cũng nhảy xuống biển mà chết. Hai cô gái thương khóc thảm thiết, rồi cũng
nhảy theo cả xuống biển. Về sau rất hiển linh. Người dân ở ven biển dựng đền thờ
làm thần, đến nay khói hương không dứt.
Quan Văn thư nghe câu chuyện than
thở mãi không thôi. Tôi bèn đọc một đôi câu đối:
Đại Tống cơ đồ thiên cổ hận
Nam thiên vũ trụ tứ thời xuân
Dịch thơ:
Đất Tống cơ đồ nghìn thủa hận
Trời Nam vũ trụ bốn mùa xuân
Đọc xong câu đối, mọi người lại dấn
dà đi. Đến khe Nước lạnh31 chỗ giáp giới Nghệ An với Thanh Hóa có một toán người dừng ở
bên đường. Thấy tôi, mọi người đều cung kính vái chào. Hỏi ra thì là những người
quê ở mấy làng quanh vùng này. Họ vừa từ ngoài Kinh về – Tôi cũng cho dừng cáng
lại đáp lễ, một lát rồi mới đi. Bấy giờ lòng quê nổi khách ngổn ngang, tôi nhân
ứng khẩu đọc một bài thơ để dãi tỏ tâm tình:
Phiên âm:
Hoan Ái phân cương địa
Quần sơn hổ tống nghinh
Tiểu ca vân lộ xuất
Điểu ngữ cốc phong sinh.
Phục thạch đương đồ lập
Dạo thiên đoạn bích hoành
Hành nhân thuyết hương tứ
Duy ngã thưởng thần kinh
Dịch thơ:
Đất chia cõi Hoan Ái32
Đưa đón núi non quanh
Đường mây ca tiểu vọng
Hang gió tiếng chim nhanh
Giữa đường tảng đá đứng
Ngang trời giải mây xanh
Người về chuyện làng xóm
Riêng ta lại lên Kinh.
Hôm ấy trời xuân ấm áp, đi đường
thảnh thơi. Chiều tối tới chợ Thổ Sơn trọ lại. Trong chợ có đồn lính của trấn
Thanh Hóa phái vào đóng ở đây để tuần phòng. Họ mang nhiều binh khí. Khi thấy
đoàn tôi tới, họ muốn giữ lại xét hỏi, nhưng đến lúc biết là có lệnh trên thì đều
xúm lại xin lỗi rồi đi.
Ngày hai mươi bốn, lên đường từ sớm
tinh mơ. Lúc này mây đen ùn ùn bốn trời, khắp chốn khói sương. Gió lạnh như cắt
da, người mặc mấy lần áo bông mà vẫn lạnh buốt. Khi tới bờ biển, nhìn ra mênh
mang muôn lớp sóng cồn, không biết đâu là bờ bến. Tôi chợt nhớ chuyện ngày xưa:
Tần Thủy Hoàng33,
Hán Vũ Đế, đều đã dốc bao tâm lực, đuổi gió dồn mây, định tìm bóng dáng Bồng
Lai, nhưng rốt cuộc chẳng thấy được gì, sao mà lắm quá lắm vậy. Ngày xưa, từng
ví cảnh làm quan là biển hoạn, tức là đã biết có nguy cơ bị chìm nổi trong chốn
ấy. Tôi vừa phóng mắt nhìn ra khắp nơi khói sóng, vừa đọc một bài thơ:
Phiên âm:
Hải ngạn kinh hành khách
Thương mang vạn lý thu
Ba đào chấn ngao cực
Vân Vụ khởi thiên khu
Dục nhật thiên trùng lãng
Tùy phong nhất diệp chu
Cổ nhân ta hoạn hải
Thâm ý tại trầm phù
Dịch thơ:
Bãi biển e chân khách
Mang mang muôn dặm thu
Núi ngao34 chặn sóng cuộn
Cột trời dựng mây mù
Tắm nắng nghìn dặm sóng
Theo gió một con đò
Người xưa than "biển hoạn"
Chìm nổi ý âu lo...
Hôm đó, quan Văn thư sai lính trấn
lấy ba chiếc thuyền chèo vượt qua cửa biển Cự Nham (tên xã) rồi lên bờ đi đến một
nơi gọi là Hàng Cơm trọ lại.
Ngày hai mươi lăm, đoàn chúng tôi
theo phía đường trên mà đi – đường phía dưới đi qua cửa biển Thần Phù35 dọc đường, qua mấy
chỗ lăng mộ, tôi đều xuống cáng đi bộ. Tối đến chợ nghỉ lại.
Ngày hai mươi sáu, đi sớm. Quá
trưa, qua đò Đài liên, đến chợ Huyện nghỉ lại nấu cơm trưa. Lúc ấy, chợ thấy một
người mặc áo thầy tu, tay chống gậy trúc, dáng dấp thảnh thơi thoát tục, tôi lấy
làm lạ, hỏi chủ nhà, chủ nhà nói:
– Ông ấy là vị sư trụ trì ở chùa
trên núi. Ông ta giỏi về bói toán lắm.
Tôi sai tiểu đồng mời nhà sư vào
hàng, chia ngôi chủ khách mời ngồi, rồi hỏi rằng:
– Nghe nói sư Cụ tinh thông dịch
lý, vậy muốn phiền Cụ xem cho một quẻ về chuyến đi này liệu có được chăng?
Nhà sư cũng không từ chối, hỏi
luôn:
– Quan nhân năm nay bao nhiêu tuổi.
Người muốn hỏi về việc gì, xin cứ thành tâm mà cầu xin, tự khắc có linh nghiệm.
Tôi bèn kể qua mọi chuyện. Nhà sư
nghe xong ngẫm nghĩ một lát rồi nói to lên rằng:
– Tốt lắm! Tốt lắm! Đúng là một
việc phi thường.
Tôi nói:
– Người quân tử hỏi điều dữ chứ
không hỏi điều lành. Xin Cụ chớ dấu diếm điều gì.
Nhà sư nói:
– Tôi vừa mới bói được một quẻ
Nguyên thủ36.
Đây là cảnh tượng vua sáng tôi hiền gặp nhau. Chu tước ngậm thư37. Rất tốt. Thanh
long38 ở giữa, Bạch hổ39 ở cuối. Quý nhân40 tới cung bản mệnh.
Dịch mã41 ứng hàng năm. Quả là ứng vào điểm được mời mọc. Ngày giờ can
chi đều Lục hợp41.
Cá nước duyên ưa. Giao long gặp mưa. Toàn là điều tốt lành. Duy chỉ có một điều
hơi đáng ngại là sao Bạch hổ lâm vào nơi hãm, lên Kinh có thể mắc bệnh
Tôi nghe nói, nghĩ thầm trong bụng
rằng: Người này học thuật tinh vi, hình dáng khác tục, hẳn có cao kiến hơn đời.
Tiếc rằng gặp nhau quá muộn, khó có thể tìm hiểu hết được những điều thâm thúy
uẩn súc. Tôi bèn đem câu chuyện kể thực cho nhà sư nghe. Và nói rằng:
– Nơi tôi ở hiện nay là núi non hẻo
lánh, nhưng đã từng quen thuộc mây non trăng biển, một vị u nhàn, nỗi niềm vấn
vương, quyến luyến không sao rời bỏ đi được. Chuyến này ra đi chẳng biết đến
bao giờ mới được trở lại chốn xưa,
để chiều chiều lại được dong chơi cùng hươu nai, trò chuyện cùng bạn bè quăng
chài, kiếm củi.
Nhà sư nghe tôi nói cũng than thở
mãi không thôi, rồi nói:
– Cái miếng cao lương42
đã làm mẻ lòng dạ con người từ lâu lắm rồi. Sao người ta thì mê mẩn mà
riêng cụ lại tỉnh ư! Tuy vậy, quẻ này ứng vào điểm chủ khách đều vinh hoa thịnh
vượng, trên dưới vui vẻ hòa hợp. Do đó, ngày về của quan nhân chưa có thể tính
trước được.
Tôi nghe nói, thở dài mấy tiếng,
sai tiểu đồng lấy tiền ra hậu tạ. Nhà sư khăng khăng từ chối, cười mà nói rằng:
– Quan nhân43 đi chuyến này,
chỉ xin cho bần đạo44
được mấy chén rượu Kinh là đủ lắm rồi.
Tôi liền sai người tùy tòng đến
ngay quán rượu, mua một bình rượu ngon mang về. Nhà sư vui vẻ hai tay đỡ lấy,
không hỏi gì tới thức nhắm, rót đầy bát lớn, bưng lên miệng uống, như con rồng
cuốn sóng một hơi cạn bát và nói to: "Sướng thật"!
Tôi bèn lên thuyền rồi vái chào từ
biệt mà đi. Đêm hôm ấy đến trạm trọ lại. Quan Văn thư tới nơi nói với tôi rằng:
– Chuyến đi này là việc công rất
khẩn cấp, nhưng chúng ta đi một ngày không quá năm, mười dặm45. Hôm trước lệnh
xuống, ngày mười tới Vĩnh Dinh, ngày mười một tới nhà cụ. Nay sắp nửa tháng rồi,
mà đường dài chỉ còn có sáu bảy ngày. Nếu có người tâu lên chuyện chậm trễ như
thế này thì thực là đáng ngại. Mong cụ thể tất cho. Bây giờ phải chọn người khỏe
mạnh để sáng ra đi ngay, đêm khuya mới nghỉ, gấp đường mà đi. Kẻ nào yếu sức
thì cho ở lại.
Tôi cười nói rằng:
– Quý huynh bất tất quá lo, dù
ngay mười chiếu chỉ truyền đến nhà tôi, mà tôi còn đi chữa thuốc nơi khác, thì
ngay thì giờ để đi tìm đó cũng đã tốn mất mấy ngày, lại thêm dọc đường mưa gió
cản trở. Cứ thế mà suy, thì hôm nay dù có mọc lông chắp cánh, cũng chưa chắc đã
đúng hạn mà đến được.
Quan Văn thư cũng cười nói:
– Thế tất là phải nói như thế rồi.
Nói rồi, trò chuyện vui cười, uống
nước chè xong mọi người đều về nhà trọ của mình.
Ngày hai mươi bảy, lúc gà gáy
sáng, trở dậy đi gấp, suốt đường núi non bao bọc, khói mây mờ đất, hươu nai thấy
người đi thì hoảng chạy, chim chóc đang ngủ thấy tiếng người nói cũng bay tung
lên.
Khi qua đỉnh đèo Ba Dội46
nắng sớm vừa lên, sương mù chưa hết. Cả đoàn người áo quần ẩm ướt, bèn
nghỉ lại ở đỉnh đèo – Quán núi vắng vẻ, mọi người đốt lửa lên hơ quần áo, sưởi
lạnh. Tôi sai người theo hầu, quét sạch một tảng đá, tôi ngồi tựa vào tảng đá
bên cành cây, tiểu đồng nấu trà, thổi cơm làm bữa ăn sáng. Tôi mời quan Văn thư
cùng uống rượu rồi lên cao nhìn xa. Trong lòng man mác, tôi định đọc lại mấy
câu thơ của người xưa để khuây khỏa, bất giác tiện miệng ngâm luôn câu thơ Đường:
Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại
Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền47
Dịch thơ:
Mây giăng Tần lĩnh nhà đâu nhỉ
Tuyết đọng Lam quan vó ngựa chùn.
Ngâm xong, lòng đầy cảm xúc, tôi
im lặng hồi lâu. Quan Văn thư thấy vẻ mặt tôi buồn rầu bèn cười và nói rằng:
– Chỗ này trăm loài hoa cỏ, một
cõi càn khôn, thật giống hệt phong vị chốn Hương Sơn. Chắc cụ ngắm cảnh động
lòng, nhưng sao lại có vẻ rầu rầu không vui như thế.
Rồi lại nói tiếp:
– Cụ lầm rồi, kẻ sĩ quân tử ở đời
chỉ có hai đường. Ra giúp đời hoặc đi ở ẩn. Ở ẩn thì giữ đạo tự vui, ra giúp đời
thì dùng đạo cứu người. Cụ vốn ẩn náu chốn núi sâu, nay một sớm cửu trùng biết
tiếng, bậc đại thần lấy lễ mời đón, thực là nghìn năm một gặp, sao cụ lại không
vui như vậy ư?
Tôi cười nói rằng:
– Quan lớn quá khen, khiến tôi hổ
thẹn. Người xưa tài cao học rộng, kinh luân chứa sẵn, đi ẩn thì che dấu tiếng
tăm, ra làm quan thì giúp vua cứu dân. Chớ như tôi nay học cạn tài hèn, vô dụng
với đời, may có được chút nghề mọn để kiếm ăn, không ngờ bỗng chốc đến nông nỗi
này. Quả là điều được hưởng thụ không xứng đáng với tài đức, không phải là điều
may đâu.
Quan Văn thư nói:
– Tôi từng được nghe quan Thự trấn
nói chuyện cụ là bậc ẩn sĩ tài cao, đâu có phải là chỉ giỏi nghề chữa thuốc.
Tôi cười nói rằng:
– Đâu có đúng như thế!
Quan Văn thư lại nói:
– Chí cụ như vàng đá, tôi không
dám bàn dông dài. Được biết cụ ngâm vịnh rất nhiều, xin cho được nghe ít lời
vàng ngọc, tôi cũng sẽ xin gọi là "nối điêu"48 đôi chút để mua cười, may
ra có giúp cụ giải phiền được phần nào chăng.
Tôi mừng nói:
– Người gảy đàn khổ vì không có
tri âm. Những khúc "Cao sơn, Lưu thủy" thế nào, như ông đã biết đấy.
Bèn gọi tiểu đồng mang giấy bút
ra, tôi viết trước một bài như sau:
Phiên âm:
Nhất bách lục phong lam vụ mê
Nhân tòng tam cấp thưởng vân thê
Yên hoàn trần lục hoành thiên bắc
Loa kết phù thanh phó hải tê
Chử dính, sương hoa khuynh phấn
hãn
Ngâm thi u điểu hướng nhân đề
Mỗi phùng thắng cảnh vi thi lụy
Khiển quyến thời dư thủy quá khê.
Dịch thơ:
Một trăm sáu ngọn mây mù dầy
Người theo ba bậc lên thang mây
Khói giăng núi biếc ngang trời Bắc
Ốc xoáy49 non xanh dưới biển Tây
Chè đượm hoa sương rơi nhị phấn
Thơ ngâm chim hót phía người đây
Mỗi nhìn cảnh đẹp thơ thành lụy
Dùng dằng giờ lâu vượt suối đầy
Viết xong, tôi đưa cho quan Văn
thư mời họa lại. Ông ta xem đi xem lại bốn năm lượt rồi nói:
– Bài của cụ, từ thơ cao xa như
những khúc hát "Bạch tuyết dương xuân"50 thực là khó họa lại. Xin
cho tôi tạm khất để tìm tòi vắt ruột vắt gan, suy nghĩ vài đêm, rồi mới dám tỏ
bày những dòng thô lậu.
Bèn dắt nhau xuống núi
Đêm hôm ấy đến chợ Vân Sàng51 nghỉ lại
Ngày hai mươi tám, đến trạm
Khương Kiều (Cầu Gừng)
Ngày ba mươi, tới trạm Thịnh Liệt52
Quan Văn thư bàn với tôi rằng:
– Trong tờ trình (Khải) đưa lên
có nói rõ ngày nào được lệnh, ngày nào lên đường, ngày nào đến, thể thức ra
sao. Xin cụ xem qua để đưa trình cho tiện.
Rồi ông ta đưa cho tôi tờ trình
và cười nói rằng:
– Mọi việc đều theo như lời cụ
nói ở dọc đường. Chiều mai, chúng ta đều nên đến dinh quan Chánh đường xem công
việc ra sao.
(Lê Hữu Trác, Tổng tập Văn học Việt Nam,
tập 6, NXB Khoa học Xã hội, 2002, tr. 570 – 585)
Chú thích:
1. Đời Lê Hiển Tông (1740 – 1786).
2. U trai: Nơi tĩnh mịch.
3. Tương Phi: Tên tiên nữ – Còn là tên một thứ
trúc.
4. Giao long: Tên một loại thuồng luồng.
5. Nghinh phong: Đón gió.
6. Tịch huyên: Tránh ồn ào.
7. Tối quảng: Rất rộng.
8. Di chân: Vui với thiên nhiên.
9. Quan Thự trấn: Chức quan đứng đầu một trấn.
10, 11. Đạo: Tờ. Văn thư: Công văn. Hai đạo văn
thư, tức hai tờ công văn.
12. Họ Phạm người huyện Đông Ngàn (nay thuộc
Tiên Sơn, Hà Bắc), bố đẻ của Phạm Thái.
13. Hương Sơn: Một huyện thuộc Hà Tĩnh.
14. Vĩnh Dinh: Địa phận thị xã Vinh.
15. Chánh đường: Chức quan cao nhất ở phủ chúa
Trịnh. Đây là Hoàng Đình Bảo, người xã Hụng Công, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc
Giang, còn có tên là Đăng Bảo và Tố Lý, cháu của Hoàng Ngũ Phúc, được Hoàng Ngũ
Phúc nhận làm con nuôi. Năm 1760 đỗ Hương cống, năm 1786, lại thi đỗ vỏ đỗ Tạo
sĩ (Ngang với Tiến sĩ văn). Con rể của Trịnh Doanh. Năm 1777, trấn thủ Nghệ An.
Năm 1778, được Trịnh Sâm giao cho trông coi công việc phủ Chúa kiêm chức Trấn
thủ Sơn Nam.
16. Đây tức là Trịnh Cán, con Trịnh Sâm và Đặng
Thị Huệ.
17. Châu Hoan: Tên gọi Nghệ An ngày xưa.
18. Tam công: Ba chức quan to đứng đầu triều
đình: Thái sư, Thái phó và Thái bảo.
19. Chu Công: Tức Chu Công Đán, người giỏi đời
Chu.
20. Hiên Viên: Tức Hoàng đế. Hiên Viên và Kỳ
Bá, hai người giỏi thuộc thời xưa ở Trung Quốc.
21. Tâm lĩnh: Tức là bộ sách "Y tông tâm
lĩnh" của Lãn Ông.
22. Khải: Tờ trình.
23. Con sông ở địa phận các huyện Hưng Nguyên
và Nghi Lộc (Nghệ – Tĩnh).
24. Luân bột: Chiếu chỉ của vua chúa.
25. Đông Lũy: Tên xã thuộc huyện Đông Thành cũ
(nay thuộc Diễn Châu, Yên Thành tỉnh Nghệ An).
26. Cao nấu bằng gạc hươu.
27. Tên đất thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ
An.
28. Tên núi thuộc huyện Quỳnh Lưu.
29. Một triều vua Trung Quốc, tương đương vào
thời nhà Lý Việt Nam.
30. "Kim" nên đổi là
"Nguyên".
31. Một khe nước rất lạnh.
32. Cõi Hoan Ái: Hoan là Nghệ An; Ái là Thanh
Hóa.
33. Tần Thủy Hoàng muốn xây chiếc cầu bằng đá ở
ngoài biển Đông để đi tìm tiên. Có đạo sĩ học được phép lấy roi quất vào đá, rồi
bỏ đá vào bao gánh đi xây cầu.
34. Theo truyền thuyết, ngày xưa có mấy con cá
ngao lớn đội mấy ngọn núi ở biển lên làm những chiếc cột.
35. Tên cửa biển, ngày xưa thuộc huyện Yên Mô
(Ninh Bình) giáp với huyện Nga Sơn (Thanh Hóa), nay đã bị cát bồi lấp.
36. Nguyên thủ: Vị đứng đầu nhà nước.
37. Tên các vì sao và vị thần dùng trong bói số.
38. Như trên
39. Như trên
40. Như trên
41. Như trên
42. Tên vị thần, coi giữ lúc mặt trời mặt trăng
gặp nhau.
43. Thịt béo, gạo ngon. Ý chỉ sự vinh hoa phú
quý ở đời.
44. Quan nhân: Cách gọi tôn quý.
45. Bần đạo: Kẻ tu hành nghèo.
46. Dài hơn 500 mét.
47. Ba Dội: Tên đèo giáp giới Thanh Hóa và Ninh
Bình, còn gọi là Tam Điệp.
48. Thơ Hàn Tương, cháu Hàn Dũ đời Đường.
49. Ngày xưa làm mũ các quan, thường dùng lông
con điêu, khi thiếu lông điêu, có người lấy đuôi chó nối thay vào. Nghĩa bóng:
Lấy cái dở nối cái hay.
50. Hình núi như búi tóc xoáy hình con ốc.
51. Vân Sàng: Thị xã Ninh Bình.
52. Thịnh Liệt: Làng Sét ở ngoại ô Hà Nội.

Nhận xét
Đăng nhận xét