CHIẾU CẦU HIỀN
- Ngô Thì Nhậm -
Từng nghe: người hiền ở trên đời
cũng như sao sáng trên trời, sao tất phải chầu về Bắc thần1, người hiền tất phải do
thiên tử sử dụng. Nhược bằng giấu mình ẩn tiếng, có tài mà không để cho đời
dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền tài.
(Hình ảnh này không có trong văn bản gốc)
Trẫm đương để ý lắng nghe, sớm
hôm mong mỏi. Thế mà những người tài cao học rộng, chưa ai đến. Hay trẫm là người
ít đức không xứng phò tá chăng? Hay đương thời loạn lạc, họ chưa thể phục sự
vương hầu chăng?
Đương khi trời còn thảo muội, là
lúc quân tử thi thố kinh luân, nay buổi đầu đại định, mọi việc còn đương mới mẻ.
Mối giềng triều đình còn nhiều thiếu sót, công việc biên ải chính lúc lo toan.
Dân khổ chưa hồi sức, đức hóa chưa thấm nhuần, trẫm chăm chắm run sợ, mỗi ngày
muôn việc lo toan. Nghĩ rằng: sức một cây gỗ không chống nổi tòa nhà to, mưu lược
một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình. Hỏi rằng trong nước, một ấp mười nhà
hẳn có người trung tín, huống chi trong cõi đất rộng lớn đến thế này, há lại
không có người xuất kiệt hơn đời, để giúp rập chính sự buổi đầu cho trẫm ư?
Vậy ban chiếu xuống, quan liêu lớn
nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có
tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều cho phép được dâng thư tỏ bày
công việc. Lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng, lời không dùng được thì để
đấy, chứ không bắt tội vu khoát. Những người có tài nghệ gì có thể dùng cho đời,
cho phép các quan văn võ được tiến cử; lại cho dẫn đến yết kiến, tùy tài bổ dụng.
Hoặc có người từ trước đến nay giấu tài ẩn tiếng, không ai biết đến, cũng cho
phép được dâng thư tự tiến cử, chớ ngại thế là “đem ngọc bán rao”.
Ôi, “trời đất bế tắc thì hiền tài
ẩn náu”! Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp
gỡ gió mây. Những ai tài đức, đều nên gắng lên, để được rỡ ràng chốn vương
đình, một lòng cung kính để cùng hưởng phúc tôn vinh.
Bố cáo xa gần, để cùng nghe biết!
MAI QUỐC LIÊN dịch
(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 7, NXB Khoa học Xã hội, 2000, tr. 68 – 69)
Chú thích:
1. Bắc thần: Sao bắc đẩu. Luận
ngữ, thiên Vi chính: "Làm chính trị bằng đức thì ví như sao Bắc đẩu ở
một chỗ mà các sao đều chầu về".
2. Điển này từ hào Sơ Cửu, quẻ cách, Kinh
Dịch: "Sơ cửu củng dụng hoàng ngưu chi cách". Ý nói: tính cương
táo mà giữ một cách trung hậu, cẩn thận, bền dai như dùng da bò mà bó thật chặt.
(Củng là buộc chặt, cách là da, hoàng ngưu là bò - hoàng tượng trưng cho đức
trung, ngưu tượng trưng bằng tính thuận). Dẫn theo Chu Dịch, bản dịch của
Phan Bội Châu, trang 899).
3. Trượng mã: Ngựa xếp hàng làm nghi trượng phải đứng im, hí lên thì bị đuổi ra. Đường thư: Lý Lâm Phủ làm tể tướng, không ưa người nói thẳng, ai nói thẳng thì bị họa, nên không ai dám nói, cũng ví như con ngựa phải đứng im trong nghi trượng.

Nhận xét
Đăng nhận xét