Gợi ý giải đề HSG môn Ngữ văn lớp 12 Đà Nẵng năm học 2025-2026
Gải đề HSG Ngữ văn 12 Đà Nẵng 2025, Bài viết tham khảo đề thi HSG Ngữ văn 12 Đà Nẵng 2025
DÀN Ý THAM KHẢO
Câu 1: Nghị luận xã
hội (4,0 điểm)
Vấn đề cốt lõi:
Cách ứng xử dựa vào nhận thức, quan điểm cá nhân khi đối diện với những tình huống
phức tạp trong cuộc sống (từ câu chuyện ăn cắp bánh mì vì đói).
Lưu ý: Học sinh không được sa đà vào việc phân
định ai đúng ai sai trong câu chuyện, mà phải dùng nó làm đòn bẩy để bàn về cơ
chế dẫn đến hành động của con người.
XEM THÊM: Đề thi HSG môn Ngữ văn lớp 12 Đà Nẵng năm học 2025-2026
1. Giải mã câu chuyện
(Điểm tựa lập luận)
- Người thứ nhất: Đại diện cho tư duy pháp lý, tính nguyên tắc (Lý). Nhận thức của ông ta là bảo vệ trật tự xã hội (“quốc gia pháp trị”). Hành động: Bắt giao cảnh sát.
- Người thứ hai: Đại diện cho lòng
trắc ẩn, tính nhân bản (Tình). Nhận thức của ông ta là “sinh mạng con người
quan trọng hơn luật pháp”. Hành động: Vờ như không thấy.
- Tiểu kết: Cả hai đều hành xử
nhất quán với nhận thức của mình. Tuy nhiên, cả hai cách hành xử đều có sự khiếm
khuyết. Người thứ nhất đúng luật nhưng cạn tình. Người thứ hai có tình nhưng lại
vô tình dung túng cho cái sai và trốn tránh trách nhiệm giải quyết vấn đề bằng
sự “ngó lơ”.
2. Bàn luận: Ứng xử
ra sao khi đối diện với cuộc sống?
Đây là phần trọng tâm, học
sinh cần thiết lập một “bộ quy tắc ứng xử” dựa trên nhận thức đa chiều:
- Nhận thức phải toàn diện (Thấu lý đạt
tình): Cuộc đời không phải là bài toán trắc nghiệm chỉ có Đúng/Sai. Một nhận
thức sâu sắc đòi hỏi ta phải nhìn thấy cả “luật pháp” và “sinh mạng”, cả nguyên
tắc và hoàn cảnh. Nếu ta là người thứ ba trong câu chuyện, nhận thức đúng đắn
nhất là: Hành động ăn cắp là sai, nhưng người đàn ông này cần được cứu. Từ nhận
thức đó, hành động ưu việt nhất là: Trả tiền chiếc bánh mì cho chủ tiệm (thượng
tôn pháp luật) và cho người đàn ông nghèo chiếc bánh đó (bảo vệ sinh mạng).
- Bản lĩnh chuyển hóa nhận thức thành
hành động tích cực: Quan điểm cá nhân dẫu nhân văn đến đâu (như người thứ
hai), nhưng nếu dẫn đến sự thỏa hiệp, im lặng (“vờ như không thấy”) thì đó là sự
hèn nhát. Ứng xử chân chính là dám can thiệp để làm cho tình huống tốt đẹp hơn.
- Tính độc lập trong quan điểm: Giữa
một xã hội đám đông (mạng xã hội), mỗi người cần có một màng lọc nhận thức
riêng, không hùa theo số đông để kết liễu một con người khi chưa hiểu rõ hoàn cảnh
của họ.
3. Trải nghiệm bản
thân
Học sinh kể lại một trải
nghiệm thực tế: Đã từng đứng trước một tình huống tiến thoái lưỡng nan (giữa việc
giữ nguyên tắc và việc thông cảm cho bạn bè/người thân). Nhận thức lúc đó của bản
thân là gì và đã ứng xử ra sao? Rút ra bài học gì?
4. Phản biện và Mở rộng
Tôn trọng quan điểm cá
nhân không đồng nghĩa với chủ nghĩa tương đối (cho rằng ai cũng có lý riêng nên
làm gì cũng được). Mọi quan điểm cá nhân, sự linh hoạt trong ứng xử đều phải
xoay quanh trục vĩ mô là: Tính nhân văn và sự hướng thiện.
Câu 2: Nghị luận văn
học (6,0 điểm)
Vấn đề cốt lõi:
Chứng minh nhận định “Cách nhận thức và phản ánh hiện thực đời sống thể hiện
tấm lòng của người nghệ sĩ dành cho con người và cuộc đời” qua đoạn trích Dòng
nhớ (Nguyễn Ngọc Tư).
Với đoạn trích này, Nguyễn
Ngọc Tư đã vứt bỏ mô-típ “đánh ghen”, “chính thất - tiểu tam” ồn ào mang tính
giật gân, để chạm đến tầng sâu nhất của nỗi đau và sự bao dung của những người
đàn bà.
1. Khởi động bằng Lí
luận (Hòa tan vào mạch văn)
- Văn học không phản ánh hiện thực bằng
lăng kính của một chiếc máy ảnh vô hồn. Hiện thực trong tác phẩm là hiện thực
đã được nhúng qua bầu máu nóng của tác giả.
- Nhà văn chọn chi tiết nào để miêu tả,
chọn góc nhìn nào để trần thuật – điều đó tố cáo hoặc tôn vinh chính “tấm lòng”
(chủ nghĩa nhân đạo) của họ. Sự vĩ đại của nhà văn nằm ở việc họ phát hiện ra
những vỉa quặng lấp lánh của tình người ở những nơi tăm tối, éo le nhất.
2. Phân tích văn bản
để làm sáng tỏ lí luận
- Luận điểm 1: Nhận thức về một hiện thực
đa chiều, không có ranh giới rạch ròi giữa đúng - sai, chỉ có những thân phận
chịu nhiều thương tổn.
+ Hiện thực: Không gian sông nước miền
Tây u buồn. Một mối tình tay ba éo le nhưng không có ai đóng vai ác.
+ Tấm lòng nhà văn: Nguyễn Ngọc Tư
nhìn hiện thực này bằng đôi mắt xót xa, độ lượng. Bà không phán xét đạo đức ba
nhân vật. Bà thấu hiểu nỗi đau của người cha (mất con, thân xác một nơi tâm hồn
một nẻo), nỗi nghẹn ngào của má (sống chung chồng nhưng không có được trái
tim), và bi kịch của người đàn bà neo ghe (Hai Giang).
- Luận điểm 2: Sự trân trọng, xót thương
dành cho người đàn bà mang danh “kẻ thứ ba” (Hai Giang).
+ Tác giả không để người đàn bà này xuất
hiện với vẻ lẳng lơ, giật chồng, mà hiện lên vô cùng lam lũ, tội nghiệp: áo vá
mỏng te, mặt đen sạm nhăn nheo, đồ vật tuềnh toàng.
+ Chi tiết đắt giá: Lúi húi thêu đồ cho
đứa con đã mất mười mấy năm, thêu xong lại tháo ra để “giết thời gian”, để ngăn
mình không khóc. Giữ lại manh áo cũ của người tình, cứ giặt hoài đến bay mất
hơi chồng...
+ Đánh giá: Phải có một trái tim cực
kỳ mẫn cảm và yêu thương, Nguyễn Ngọc Tư mới có thể len lỏi vào tận cùng nỗi
đau tâm thần phân liệt, sự bấu víu tuyệt vọng vào ký ức của một người đàn bà mất
con, mất tình yêu.
- Luận điểm 3: Sự thăng hoa của tình người
qua góc nhìn và sự thức tỉnh của nhân vật “má tôi”.
+ Đây là đỉnh cao của sự phản ánh hiện
thực. Một cuộc “đi đánh ghen” bỗng biến thành một cuộc gặp gỡ của hai tâm hồn
đàn bà mang nhiều thương tích.
+ “Má tôi” ban đầu đi với tâm thế chiến
thắng, bề trên (“xấu hơn mình nhiều”, “chồng tôi theo vợ bé mất rồi” - câu nói
cố tình sát muối).
+ Nhưng rồi, sự thật về nỗi đau tột cùng
của “tình địch” đã bẻ gãy mọi sự ích kỷ. Câu cảm thán: “Đàn bà mình sao khổ
vậy?” là một sự đồng nhất, một cái ôm vô hình. Má nhận ra mình còn may mắn
chán (“ban ngày ngoài ruộng, ban đêm chung giường”), còn người ta đã mất tất cả.
+ Đánh giá: “Tấm lòng” của Nguyễn Ngọc
Tư bừng sáng khi bà để cho nhân vật vứt bỏ sự ghen tuông tầm thường, thay vào
đó là lòng bao dung, vị tha vĩ đại. Tác giả đã bảo vệ phẩm giá của con người,
khẳng định cái Đẹp của tình đồng loại.
- Luận điểm 4: Nghệ thuật phản ánh hiện
thực - Vẻ đẹp của sự kìm nén.
+ Ngôn ngữ Nam Bộ tự nhiên, mộc mạc (“mui
lợp lá chằm đốp”, “khúc khắc”, “lãng nhách”).
+ Không có tiếng gào thét, chửi rủa. Hiện
thực hiện lên tĩnh lặng nhưng bên trong là sóng ngầm cuồn cuộn (“Má tôi không
nói, quay đi và khóc”). Giọng văn điềm đạm, nén nỗi đau vào trong càng làm bật
lên sự xót xa của tình người.
3. Tổng hợp, Nâng cao
- Cách phản ánh hiện thực của Nguyễn Ngọc
Tư trong Dòng nhớ minh chứng cho quyền năng của văn chương: Văn chương
vượt lên trên những phán xét đạo đức thông thường để chạm tới cõi nhân bản.
- Nếu không có tấm lòng trĩu nặng yêu
thương của nhà văn, hiện thực kia mãi mãi chỉ là một vụ đánh ghen tầm thường
nơi bến sông vắng. Chính cái Tâm của người viết đã nâng tầm câu chuyện thành một
bài ca về thân phận và lòng vị tha của người phụ nữ Nam Bộ.
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1. Nghị luận xã hội
Đại văn hào người Pháp
Victor Hugo trong kiệt tác Những người khốn khổ từng khắc họa một bi kịch
làm rúng động lương tri nhân loại: Jean Valjean, vì muốn cứu những đứa cháu
đang chết đói, đã đập vỡ tủ kính để ăn cắp một chiếc bánh mì, và cái giá phải
trả là mười chín năm tù khổ sai đày đọa. Câu chuyện của thế kỷ XIX ngỡ đã lùi
sâu vào dĩ vãng, bỗng một lần nữa sống dậy đầy nhức nhối qua một mẩu chuyện nhỏ
được nhà báo Phan Đăng trích dẫn trong cuốn 39 câu hỏi cho người trẻ. Một
người đàn ông lả đi vì đói đã ăn cắp bánh mì. Hai người chứng kiến, hai cách phản
ứng trái ngược: một người nhân danh pháp luật để trói gô kẻ cắp giao cho cảnh
sát; một người nhân danh sinh mạng con người để quay lưng, vờ như không thấy. Từ
câu chuyện chốn ngã ba đường ấy, một câu hỏi lớn được đặt ra, xoáy sâu vào tâm
thức mỗi chúng ta: Đứng trước những tình huống phức tạp của cuộc sống, ta sẽ để
nhận thức và quan điểm cá nhân dẫn dắt hành vi của mình như thế nào cho vẹn
toàn, thấu đáo?
Hành vi của con người
chưa bao giờ là những phản xạ vô điều kiện. Nó là tấm gương phản chiếu chính
xác lăng kính nhận thức và thế giới quan nằm sâu trong tâm trí họ. Câu chuyện
chiếc bánh mì là một phòng thí nghiệm hoàn hảo về tâm lý và đạo đức, nơi ta thấy
rõ nhận thức đẻ ra hành động như thế nào.
Người thứ nhất, mang
trong mình lăng kính của sự thượng tôn pháp luật: “Nhật Bản là một quốc gia
pháp trị, việc ăn cắp là không thể chấp nhận”. Nhận thức của ông ta dựa
trên những nguyên tắc rạch ròi, trắng đen phân minh. Xã hội muốn tồn tại phải
có trật tự, kỷ cương; kẻ phá vỡ trật tự ấy phải bị trừng phạt. Chính hệ quy chiếu
này đã thôi thúc ông ta chạy theo, bắt người đàn ông nghèo khổ giao cho cảnh
sát. Ở thái cực ngược lại, người thứ hai lại mang lăng kính của chủ nghĩa nhân
đạo: “Sinh mạng con người quan trọng hơn luật pháp”. Ông ta nhìn thấu
nguyên nhân sâu xa của hành động ăn cắp không xuất phát từ bản chất lưu manh,
mà từ sự dồn đẩy của bản năng sinh tồn. Cái đói đã tước đi quyền làm người thiện
lương của anh ta. Từ nhận thức đầy lòng trắc ẩn ấy, người thứ hai đã chọn cách ứng
xử: “vờ như không thấy gì” để chừa cho kẻ tội nghiệp kia một con đường sống.
Nếu chỉ nhìn lướt qua,
ta dễ dàng rơi vào cái bẫy tranh cãi xem ai đúng, ai sai. Người chuộng lý lẽ sẽ
ngợi ca người thứ nhất là công dân gương mẫu. Người nặng tình cảm sẽ tôn vinh
người thứ hai là người có trái tim Bồ Tát. Nhưng nếu dùng một tư duy sắc bén để
lật lại vấn đề, ta sẽ nhận ra một sự thật phũ phàng: Cả hai cách ứng xử ấy đều
mang trong mình những khiếm khuyết chết người, bởi chúng xuất phát từ những nhận
thức phiến diện, một chiều.
Hãy nhìn vào người thứ
nhất. Việc duy trì pháp luật là đúng, nhưng khi pháp luật bị tước đi sự thấu cảm,
nó sẽ trở thành một cỗ máy chém lạnh lùng và tàn nhẫn. Nếu chỉ áp dụng luật một
cách máy móc, ta đang vô tình đẩy một con người bước đường cùng xuống vực thẳm.
Thanh tra Javert trong Những người khốn khổ cả đời chỉ biết tuân theo luật
pháp để truy cùng diệt tận Jean Valjean, đến mức cuối cùng khi nhận ra sự vĩ đại
của tình người, ông ta đã rơi vào khủng hoảng và tự vẫn. Một nhận thức chỉ có “Lý”
mà vắng bóng “Tình” sẽ biến con người thành những cỗ máy thực thi giáo điều khô
khốc, nhân danh công lý để chà đạp lên đồng loại.
Vậy người thứ hai thì
sao? Lòng trắc ẩn của ông ta rất đẹp, nhưng cách ông ta hành xử lại bộc lộ một
sự yếu hèn và thỏa hiệp. “Vờ như không thấy gì” – đó là một hành động trốn
tránh trách nhiệm. Ông ta thương người ăn cắp, nhưng lại bỏ mặc quyền lợi chính
đáng của người chủ tiệm bánh (người đã bị mất tài sản). Sự im lặng của ông ta,
dẫu xuất phát từ ý tốt, lại vô tình dung túng cho cái ác, cái sai tiếp diễn. Xã
hội sẽ ra sao nếu ai thấy kẻ cắp cũng “vờ như không thấy” chỉ vì nghĩ rằng họ
đáng thương? Một nhận thức dẫu nhân văn đến đâu, nhưng nếu không biến thành những
hành động kiến tạo thiết thực, thì đó chỉ là thứ tình thương vô dụng, thậm chí
là dung túng cho sự hỗn loạn.
Từ sự bế tắc của hai
nhân vật trên, ta nhận ra một chân lý sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc đời: Một
hành động đúng đắn phải được khởi nguồn từ một nhận thức đa chiều (thấu lý đạt
tình) và phải chuyển hóa thành một hành vi kiến tạo, mang lại giá trị thực tế.
Cuộc đời không phải là một
bài toán trắc nghiệm chỉ có hai đáp án Đúng hoặc Sai. Ranh giới giữa ánh sáng
và bóng tối nhiều khi chỉ mỏng như một sợi chỉ. Nhận thức của chúng ta không thể
chỉ là một đường thẳng cứng nhắc, mà phải là một quả cầu đa diện. Đứng trước một
con người lầm lỗi, một người có nhận thức sâu sắc sẽ không vội vã kết án họ bằng
ánh mắt sắc lạnh của quan tòa, cũng không ủy mị rơi nước mắt mà bỏ qua mọi
nguyên tắc. Họ sẽ dùng lý trí để phân định rõ ràng: “Hành động ăn cắp là sai và
phải bị ngăn chặn”. Đồng thời, họ dùng trái tim để bao dung: “Sinh mạng này
đang lâm nguy và cần được cứu giúp”.
Và từ sự tổng hòa tuyệt
vời giữa Lý và Tình ấy, cách ứng xử tối ưu nhất sẽ ra đời. Nếu có một người thứ
ba xuất hiện trong câu chuyện, mang trong mình nhận thức vẹn toàn ấy, anh ta sẽ
làm gì? Anh ta sẽ bước tới, trả tiền chiếc bánh mì cho người chủ tiệm, rồi quay
sang đưa chiếc bánh ấy cho người đàn ông đang đói khát, có thể kèm theo một lời
khuyên hoặc một sự giúp đỡ tìm việc làm. Trả tiền cho chủ tiệm là bảo vệ sự tôn
nghiêm của pháp luật và trật tự xã hội. Tặng bánh cho người nghèo là bảo vệ
sinh mạng và nhân phẩm con người. Đó mới là cách ứng xử của một bậc trí giả:
Không thỏa hiệp với cái sai, không chà đạp lên thân phận, mà can thiệp để làm
cho mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn. Giống như Giám mục Myriel đã cho Jean Valjean
trọn bộ chân nến bằng bạc để cứu rỗi linh hồn anh, thay vì vạch trần anh trước
cảnh sát. Hành động ấy đã sinh ra một vị thánh nhân cho đời.
Mở rộng góc nhìn ra khỏi
câu chuyện chiếc bánh mì, ta chợt rùng mình khi nhận ra sự phiến diện trong nhận
thức đang ngày ngày bào mòn văn hóa ứng xử của con người hiện đại, đặc biệt là
trong kỷ nguyên mạng xã hội. Không hiếm những lần, cộng đồng mạng đóng vai “người
thứ nhất”, nhân danh công lý, đạo đức để lập ra những phiên tòa không bồi thẩm
đoàn. Họ thi nhau ném đá, lăng mạ, triệt hạ danh dự của một người nổi tiếng, một
cá nhân lỡ miệng nói sai, mà không cần tìm hiểu góc khuất hay hoàn cảnh dồn đẩy
phía sau. Lăng kính của sự “tuyệt đối hóa nguyên tắc” đã biến mạng xã hội thành
những đấu trường La Mã đẫm máu.
Mặt khác, cũng không thiếu
những đám đông đóng vai “người thứ hai”, mang một lòng bao dung đặt nhầm chỗ. Họ
sẵn sàng lên tiếng bênh vực một kẻ giết người tàn độc chỉ vì kẻ đó có một tuổi
thơ bất hạnh; họ xót thương cho những giọt nước mắt của những kẻ tham nhũng trước
vành móng ngựa mà quên đi hàng vạn mảnh đời bị bòn rút. Khi nhận thức bị cảm
xúc thao túng mù quáng, cách ứng xử của chúng ta sẽ trở thành đòn chí mạng đâm
sau lưng sự công bằng của xã hội. Do đó, việc duy trì một tư duy độc lập, tỉnh
táo, không a dua theo đám đông, kết hợp cùng một lòng trắc ẩn sáng suốt là chiếc
mỏ neo giữ ta lại giữa những cơn sóng ngầm của thời đại.
Hành trình trưởng thành
của mỗi con người chính là hành trình đập vỡ những lớp vỏ định kiến chật hẹp để
tự xây dựng cho mình một bộ lọc nhận thức toàn diện. Tôi cũng đã từng có một trải
nghiệm sâu sắc, một cú va vấp để đời giúp tôi định hình lại quan điểm ứng xử của
chính mình.
Năm lớp 11, tôi là nhóm
trưởng của một dự án quan trọng. Trong nhóm có H, một cậu bạn thường xuyên đến
muộn, trễ deadline và đóng góp vô cùng mờ nhạt. Mang trong mình sự tự tôn của một
nhóm trưởng coi trọng nguyên tắc và sự công bằng, tôi đã cư xử đúng như “người
thứ nhất”. Tôi gay gắt chỉ trích H. trước mặt cả nhóm và quyết định viết email
báo cáo giáo viên để gạch tên cậu ấy ra khỏi dự án. Nhưng ngay buổi chiều hôm
đó, khi nán lại trường muộn, tôi vô tình nghe được cuộc điện thoại rớm nước mắt
của H. trong hành lang vắng. Hóa ra, mẹ cậu ấy vừa phát hiện bạo bệnh, bố đi
làm ăn xa, H. phải thức trắng đêm trong bệnh viện chăm mẹ, sáng lại vội vã chạy
đến trường.
Khoảnh khắc ấy, nhận thức
khô cứng trong tôi sụp đổ. Tôi thấy mình tàn nhẫn và lạnh lùng quá đỗi. Sự ân hận
dâng lên, tôi định sẽ rút lại email, và bảo H. cứ nghỉ ngơi, tôi sẽ làm thay
toàn bộ phần việc của cậu ấy để cậu ấy vẫn có điểm – một cách ứng xử hệt như sự
bao che của “người thứ hai”. Nhưng rồi, tôi khựng lại. Làm vậy liệu có giúp H.
thực sự trưởng thành? Có công bằng với công sức của các thành viên khác?
Suy nghĩ thấu đáo, tôi
chọn cách ứng xử thứ ba. Tôi gặp riêng H., chia sẻ sự đồng cảm với hoàn cảnh
gia đình bạn. Sau đó, tôi họp nhóm, không kể chi tiết chuyện riêng của H. để bảo
vệ lòng tự trọng của bạn, nhưng đề xuất chia lại khối lượng công việc: H. sẽ phụ
trách phần tìm kiếm tài liệu (công việc có thể làm linh hoạt tại bệnh viện),
trong khi các thành viên khác gánh vác phần thuyết trình. Chúng tôi cũng cùng
nhau góp một quỹ nhỏ để mua giỏ trái cây vào viện thăm mẹ H. Nhờ sự điều chỉnh
dựa trên sự thấu cảm nhưng vẫn giữ nguyên tắc trách nhiệm ấy, dự án của chúng
tôi không chỉ đạt điểm cao mà H. cũng không bị bỏ lại phía sau. Trải nghiệm đó
đã dạy tôi một bài học cốt cốt tử: Sự bao dung chân chính không phải là làm hộ
người khác, mà là tạo cho họ một con đường phù hợp nhất để họ có thể tự đứng
lên trong giông bão.
Mỗi ngày trôi qua, cuộc
sống sẽ không ngừng ném vào chúng ta những “kẻ ăn cắp bánh mì”, những tình huống
trớ trêu, ngang trái không có sẵn lời giải trong bất kỳ cuốn sách giáo khoa
nào. Nếu chỉ ôm khư khư một mớ lý thuyết nguyên tắc, ta sẽ trở thành những hòn
đá vô tri. Nếu chỉ mềm yếu buông xuôi theo cảm xúc, ta sẽ trở thành những loài
phù du trôi dạt. Cách chúng ta phản ứng trước thế giới sẽ quyết định chúng ta
là ai.
Hãy rèn luyện cho mình một
đôi mắt đủ tinh tường để nhìn thấu ranh giới của đúng – sai, một trái tim đủ rộng
lớn để chứa đựng những nỗi đau của đồng loại, và một đôi bàn tay đủ dũng cảm để
hành động, can thiệp và kiến tạo. Bởi đến cuối cùng, cuộc sống không đo đếm sự
vĩ đại của con người qua việc chúng ta đã phán xét đúng bao nhiêu lỗi lầm của kẻ
khác, mà qua việc chúng ta đã dùng nhận thức và lòng nhân ái của mình để vá
víu, chữa lành bao nhiêu vết thương cho cuộc đời này.
Câu 2. Nghị luận văn học
Nhà văn Nga M. Prishvin
từng để lại một đúc kết đầy thấm thía: “Phải chăng thiên nhiên sinh ra con
người để thông qua con người, thiên nhiên tự nhận thức được vẻ đẹp của chính
mình?”. Nếu mượn ý tưởng ấy để nói về văn chương, ta cũng có thể cất lên một
tiếng hỏi tương tự: Phải chăng cuộc đời đầy rẫy những bề bộn, éo le này sinh ra
nhà văn để thông qua họ, con người tự nhận thức được tận cùng nỗi đau và vẻ đẹp
của đồng loại? Hiện thực dẫu phong phú đến đâu cũng chỉ là những mảng màu câm lặng
nếu thiếu đi lăng kính tâm hồn của người cầm bút. Chính vì thế, có ý kiến cho rằng:
“Cách nhận thức và phản ánh hiện thực đời sống thể hiện tấm lòng của người nghệ
sĩ dành cho con người và cuộc đời.” Nhận định ấy như một ngọn hải đăng, dẫn lối
cho ta dấn bước vào thế giới ngập tràn sóng nước và những tiếng nấc nghẹn ngào
trong đoạn trích Dòng nhớ của nữ văn sĩ Nguyễn Ngọc Tư, để thấy một trái
tim đàn bà đang đập những nhịp đập thổn thức vì xót thương cho thân phận con
người.
Văn chương muôn đời bám
rễ vào mảnh đất hiện thực, nhưng nghệ thuật không bao giờ là một nhiếp ảnh gia
vô hồn chỉ biết sao chép lại cuộc đời một cách máy móc. “Nhận thức và phản ánh
hiện thực” chính là cách nhà văn lựa chọn góc nhìn, bóc tách các tầng vỉa của đời
sống và tái tạo lại chúng bằng ngôn từ. Thế nhưng, điều gì quyết định góc nhìn ấy?
Đó chính là “tấm lòng của người nghệ sĩ”. Trái tim của nhà văn càng mang nhiều
trắc ẩn, cái nhìn của họ trước cuộc đời càng sâu sắc, bao dung. Khi soi chiếu
hiện thực qua màng lọc của tình yêu thương, ngòi bút của người nghệ sĩ sẽ không
dừng lại ở những hiện tượng xô bồ trên bề mặt, mà lách sâu vào những góc khuất
tăm tối nhất để tìm kiếm những hạt ngọc của tình người, để gỡ oan cho những
thân phận bị định kiến đọa đày. Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn như thế. Chị mang
theo một tấm lòng trĩu nặng ân tình với đất và người Nam Bộ, để rồi nhào nặn
nên một Dòng nhớ đầy khắc khoải, bẻ gãy mọi quy chuẩn phán xét thông thường
để tôn vinh sự vĩ đại của đức hi sinh và lòng vị tha.
Đoạn trích Dòng nhớ
xoay quanh một tình huống hiện thực vốn vô cùng quen thuộc, thậm chí là giật
gân trong đời sống: một cuộc “đánh ghen”, một sự đối diện giữa người vợ danh
chính ngôn thuận và “kẻ thứ ba” từng mang đứa con của chồng mình. Nếu nhìn bằng
con mắt thế tục, bằng nhận thức nông cạn, người ta sẽ dễ dàng biến câu chuyện
này thành một màn đấu khẩu chát chúa, một sự trừng phạt hả hê mà ở đó, người vợ
đóng vai nạn nhân đáng thương, còn người đàn bà kia là tội đồ cần bị lên án.
Nhưng với tấm lòng của một nghệ sĩ đích thực, Nguyễn Ngọc Tư đã từ chối lối mòn
ấy. Nhận thức của chị về cuộc đời không tồn tại những ranh giới trắng đen, đúng
sai rạch ròi, mà chỉ có một màu xám của những thân phận đàn bà cùng mang nhiều
thương tích. Chị chọn cách phản ánh hiện thực trong một không gian tĩnh lặng đến
nghẹt thở: một đêm sông nước miền Tây nhiều gió, ngọn đèn đo đỏ leo lét trên
chiếc ghe tuềnh toàng. Không gian ấy không dành cho những cuộc cãi vã trần tục,
mà là không gian của sự hiển linh những nỗi đau sâu thẳm nhất.
Tấm lòng bao dung của
Nguyễn Ngọc Tư trước hết được dành trọn cho nhân vật Hai Giang – người đàn bà
mang danh “tình địch”, “người thứ ba”. Dưới ngòi bút thấm đẫm yêu thương, hiện
thực về Hai Giang không hiện lên với vẻ lẳng lơ, mưu mô giật chồng, mà hiện lên
như một sinh thể tàn tạ, đáng thương nhất cõi đời. Khi người vợ bước sang chiếc
ghe, sự chuẩn bị cho một màn “ghê gớm lắm” bỗng chốc vỡ vụn trước một hình hài
tiều tụy: “dì mặc chiếc áo cộc tay màu cau khô ở trong, khoác thêm chiếc áo
bà ba ở ngoài, mỏng te, nhiều mụn vá. Tóc đã bạc nhiều, lơ thơ vài cọng rủ xuống
mặt. Sương gió đã làm cho khuôn mặt dì đen sạm, nhăn nheo”. Chi tiết miêu tả
ngoại hình ấy tàn nhẫn mà chân thực quá đỗi. Nó tố cáo một cuộc đời lênh đênh,
bị vùi dập bởi sương gió thương hồ. Chị không có gì cả, không thanh xuân, không
nhan sắc, mọi thứ trên chiếc ghe ấy đều “nhỏ nhắn, tuềnh toàng”. Nhà văn
đã đặt người đọc vào một trạng thái xót xa, tước đi của chúng ta cái quyền được
phán xét hay ghét bỏ người đàn bà ấy.
Và rồi, sự thấu cảm của
ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư đạt đến đỉnh điểm khi chị lách những mũi dao ngôn từ
vào tận cùng thế giới nội tâm u uất, rỉ máu của Hai Giang. Nỗi đau lớn nhất của
người đàn bà không phải là sự nghèo đói, mà là sự mất mát đến tận cùng: mất
con, và mất người đàn ông mình yêu thương. Câu hỏi “lỡ miệng” đầy tàn độc
của người vợ: “- Ủa, chị có cháu nhỏ à?” đã xé toạc vết thương lòng chưa
bao giờ khép miệng. Lời bộc bạch của Hai Giang như những tiếng nấc vụn vỡ dội
vào mặt sông đêm: “- Con bé Phước nhà tôi vô phước lắm chị à... tôi chiêm
bao thấy cháu nó hoài... nó biểu má đừng bỏ con...”. Chị bấu víu vào dòng
sông này, chấp nhận kiếp sống trôi dạt như một bóng ma chỉ vì một lời hứa trong
chiêm bao với đứa con đã chết. Đau đớn hơn, cách chị đối diện với nỗi cô đơn mới
thực sự làm người đọc chết lặng. Người đàn bà ấy cứ lấy quần áo cũ của chồng
con ra giặt hoài, “- ...không giặt thì không được mà giặt hoài, tới hơi chồng
cũng bay, tôi cũng quên mất rồi...”. Và chi tiết ám ảnh bậc nhất của thiên
truyện, rực sáng lên như một tuyệt bút của Nguyễn Ngọc Tư, chính là hành động
thêu gối: “- ...tôi thêu cho hết đêm, xong rồi lại tháo chỉ ra, tôi sợ, nếu
không làm gì, tôi... tôi sẽ nhớ chồng con tôi rồi mắc... khóc, cầm lòng không
được.” Tại sao lại thêu rồi tháo? Đó không phải là hành động của một kẻ
điên, mà là nỗ lực tuyệt vọng của một sinh linh đang cố bám trụ lại bờ rìa của
sự sống. Thêu xong nghĩa là thời gian ngừng lại, là đối diện với sự trống rỗng
tuyệt đối. Chị phải tháo ra để ngày mai có cớ làm lại, để bắt đôi bàn tay bận rộn
nhằm khóa chặt van nước mắt. Nguyễn Ngọc Tư đã hóa thân trọn vẹn vào nhân vật để
nếm trải nỗi đau cào xé ruột gan ấy. Chi tiết “thêu rồi tháo” mang một sức nặng
biểu tượng khủng khiếp, tựa như hòn đá của thần thoại Sisyphus cứ lăn lên đỉnh
núi rồi lại rơi xuống, tuần hoàn trong một bi kịch không lối thoát. Nếu không
có một trái tim vĩ đại, làm sao nhà văn có thể nghe thấy âm thanh của những sợi
chỉ cứa vào bóng tối, làm sao có thể phát hiện ra một thứ hiện thực tinh thần đầy
ám ảnh và xót xa đến nhường ấy?
Nhưng tấm lòng nhân đạo
của nhà văn không chỉ dừng lại ở sự thương cảm cho một cá nhân. Tầm vóc của Dòng
nhớ còn được tạo nên bởi sự chuyển hóa nhận thức kì diệu của nhân vật “má
tôi” – người vợ hợp pháp. Thông qua hành trình diễn biến tâm lý của người vợ,
Nguyễn Ngọc Tư đã cất lên một bài ca tuyệt đẹp về sự vươn mình của tính bản thiện,
vượt qua những hẹp hòi, đố kỵ trần tục.
Ban đầu, “má tôi” đến
chiếc ghe ấy mang theo một sự kiêu hãnh của người chiến thắng, của kẻ đang độc
chiếm người đàn ông. Bà muốn “biểu người ta buông tha ba tôi ra”, bà cố
tình sát muối vào tim tình địch bằng câu nói dằn mặt: “- Còn chồng tôi thì
theo vợ bé mất rồi”. Đó là phản xạ tự nhiên, đầy con người của một người vợ
bị chia sớt tình cảm. Thế nhưng, từng bức tường phòng thủ đầy gai nhọn ấy đã bị
đánh sập hoàn toàn trước giọt nước mắt và nỗi đau tột cùng của Hai Giang. Từ chỗ
dò xét, hả hê (“xấu hơn mình nhiều”), người vợ rơi vào trạng thái chấn động,
“ngồi lặng, tự hỏi, mà không biết nói gì nữa”, rồi cuối cùng là rưng
rưng vỡ òa: “- Đàn bà mình sao khổ vậy?”.
Câu thoại thốt ra từ cửa
miệng người vợ mang sức nặng bằng cả một thiên tiểu thuyết. Kẻ thù bỗng chốc
hóa thành tri kỷ. Giữa hai người đàn bà ấy không còn ranh giới của vợ lớn - vợ
bé, mà chỉ còn là sự đồng vọng của hai thân phận nữ nhi bọt bèo, đa truân. Sự
nhận thức hiện thực của người vợ bỗng chốc trở nên thấu đáo và vị tha tột bậc.
Bà làm một phép so sánh cay đắng nhưng vĩ đại: “Năm nầy qua năm khác mình được
sống chung với ảnh... Còn người ta, nhớ thương đứt ruột cũng đành ngồi đây ngó
lên...”. Cuộc “đánh ghen” kết thúc không bằng những cái tát hay những lời
thóa mạ, mà kết thúc bằng việc “Má tôi không nói, quay đi và khóc”. Giọt
nước mắt ấy là giọt nước mắt thanh lọc tâm hồn, gột rửa mọi nhỏ nhen vị kỷ để
nhường chỗ cho tình đồng loại thiêng liêng. Đặc biệt, chi tiết ở phần kết, khi
người chồng qua đời, má tôi vẫn đi tìm người đàn bà ấy để “mời dì lên nằm
trên đất vườn tôi” là một nét vẽ cuối cùng làm hoàn thiện bức chân dung của
một nữ thần bao dung. Nguyễn Ngọc Tư đã phản ánh một hiện thực không hề tô hồng
giả tạo, nhưng chị luôn có niềm tin mãnh liệt vào khả năng tự thức tỉnh và ánh
sáng của thiên lương ẩn sâu trong mỗi con người. Đó chính là bản chất cao đẹp
nhất của chức phận văn chương.
Cái tài của Nguyễn Ngọc
Tư là đã dùng những lớp vỏ bọc ngôn từ tưởng chừng thô mộc nhất để bọc lấy những
khối tình cảm cháy bỏng nhất. Hệ thống ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ (“chằm đốp”,
“giả đò”, “tấp xuồng”, “tuềnh toàng”) không làm cho câu chuyện trở nên nôm
na, mà ngược lại, tạo ra một phong vị hiện thực đặc quánh, nơi những con người
chân quê tự bộc lộ mình. Cách trần thuật điềm đạm, nén những bão táp vào bên
trong đôi mắt, vào những câu nói dở dang, rụt rè... càng làm cho nỗi đau đọng lại
thành những dư ba day dứt. Đêm trên sông gió thổi, tiếng “mái chèo quẫy chủm
trên mặt sông ngọt, nhẹ”, ngọn đèn đong đưa... tất cả hợp thành một không
gian nghệ thuật mờ ảo, xa xót, ôm trọn lấy bi kịch của con người. Nghệ thuật
miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo đến từng rung động vi tế nhất chứng tỏ nhà văn
đã sống cùng, khóc cùng nhân vật của mình.
Gấp lại trang sách, dường
như người đọc vẫn còn nghe thấy tiếng thở dài nén lại của má tôi, vẫn còn thấy
bóng dáng tiều tụy của Hai Giang đang cặm cụi gỡ từng đường chỉ trong đêm tối.
Qua Dòng nhớ, ta nhận ra chân lý: Sức sống của một tác phẩm nghệ thuật
không nằm ở những mảng miếng giật gân, mà nằm ở độ sâu của cái nhìn nhân đạo. Bằng
việc chối từ những phán xét nông cạn, Nguyễn Ngọc Tư đã đi sâu vào cõi mịt mùng
của thân phận để thắp lên ngọn nến của lòng vị tha, bao dung. Chị đã chứng minh
một cách xuất sắc rằng: “Cách nhận thức và phản ánh hiện thực đời sống thể
hiện tấm lòng của người nghệ sĩ dành cho con người và cuộc đời”. Trang văn
dẫu buồn bã đến nao lòng, nhưng lại khiến ta cảm thấy ấm áp hơn, muốn xích lại
gần nhau hơn, và tự dặn lòng phải sống chậm lại để học cách yêu thương đồng loại
mình một cách trọn vẹn nhất. Bởi đến cuối cùng, nghệ thuật sẽ chẳng là gì cả nếu
nó không góp phần làm cho tâm hồn con người trở nên thanh sạch và vĩ đại hơn.
