KIỂM TRA GIỮA KÌ II NĂM HỌC 2024 – 2025
Môn: NGỮ VĂN – LỚP 8
Thời gian làm bài: 09 phút (không kể thời gian phát đề)
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
NHỮNG HẠT BỎNG
NGÔ
[...]
Phố nhà tôi từ mấy năm rồi, hàng quán đông
quá lắm, chật cả vỉa hè. Toàn người lớn là người lớn ra mua, vì trẻ con không
uống bia, không hút thuốc lá, không ăn cơm "bình dân", không
"trà lá", thì ngồi vào đấy làm gì. Một ngày kia, ngày nào thì tôi
không xem lịch, bên cổng một nhà số chẵn, có bà cụ ra ngồi cùng một chiếc thúng
to tướng, bên trong đặt bọc ni-lông trong suốt, nhìn rõ những hạt gì to to,
tròn tròn căng mọng lên ở trong đó. Thấy hay hay, tôi bước tới ngó xem thì... trời ơi! “Bỏng! Bỏng ngô!”. Cùng lúc có đứa đứng ở
đàng sau tôi reo lên như đang xem đá bóng: “Bỏng ngô! Chúng
mày ơi!” Thấy vậy, bà cụ cười:
- Mua đi! Mua mở hàng cho bà đi nào!
Chẳng đứa nào có tiền hết cả. Có đứa cười
trừ. Có đứa nghệt mặt ra. Tôi cũng lúng túng, thú thật:
- Cháu không có tiền ạ!
Tưởng bà cụ sẽ hất tay: “Thế thì đi chỗ
khác!” như mọi người lớn vẫn hay nói với chúng tôi thế, thì bà cụ lại cười
cười:
- Vậy thì bà đãi các cô các cậu mỗi cháu
vài hạt. Lúc nào có tiền thì ra đây bà bán cho!
Tôi là đứa nhận nắm hạt bỏng sau cùng. Bà
vừa đưa cho tôi, vừa khen:
- Anh này lớn, biết nhường các em nhỉ!
Tôi vừa sung sướng vừa nóng cả mặt. Bà cụ
yêu con trẻ quá. Đứa nào là cháu của bà ở nhà, chắc tha hồ mà ăn bỏng, tha hồ
mà sướng. Tôi cảm ơn, nói lời xin bà cụ và tự nhiên thấy lòng rưng rưng buồn.
Tôi không có bà. Vì bà tôi mất đã lâu.
Là người cùng phố, nhưng mãi hôm ấy tôi mới
được biết. Biết bà với cái tên chúng tôi gọi y như thấy bà khi ấy. “Bà bỏng
ngô”.
Bà bán rất rẻ, lần nào, sau khi đong đầy
cái bát bằng gỗ dùng để đong bỏng, đổ vào túi hay mũ cho chúng tôi, bà cũng
nhón thêm cho vài hạt. Ấy thế mà có người lớn, lúc mua,
bà đã thêm cho rồi, mà vẫn còn cố thọc tay vào bọc đòi thêm vài hạt nữa.
Tham quá!
Bà cụ bán
bỏng mà bọn trẻ chúng tôi rất thích như tôi đã kể, còn có một sự thân thiết nữa
chỉ chúng tôi mới cảm thấy. Bà hiền lành và luôn luôn nhỏ nhẹ khuyên bảo chúng tôi
vào những lúc giá như ở nhà thì đã bị mắng. Ví dụ như lúc bọn trẻ nói tục, cãi
nhau, có đứa đánh nhau, thì bà lại can:
- Đừng thế các cháu ơi! Bà xin. Bà cho mấy
hạt mà nhai này!...
Có đứa trèo cây, bẻ cành, bà cũng gọi xuống
nhắc nhở và dúm cho vài hạt. Nhiều hôm đi học về, không có việc gì, không biết
chơi gì, tôi lại tha thẩn ra cái cổng có bà ngồi mà nhìn phố xá. Bà đã quen,
nên thỉnh thoảng bà lại gọi cho tôi một nắm. Tôi đã đủ trí khôn để nói:
- Thế này thì bà hết vốn mất!
Bà cười:
- Hết làm sao được. Hết bà lại mua...
Ngừng một thoáng, bà tiếp:
- Có thứ không thể mua được cháu ạ...
Bà nói với bà hay nói cho tôi, lúc đó tôi
chưa hiểu. Nhưng rồi bỗng một ngày...
Bà bỏng ngô không ra cổng ngồi...
Hôm sau, hôm sau nữa, vẫn vắng bà...
Tôi dè dặt hỏi thăm mới biết là bà cụ đã về
trong quê ở với con cháu. Căn hộ đã để lại cho gia đình khác. Tôi ngẩn ngơ cả
người, thờ thẫn mãi.
Từ buổi ấy, phố nhà tôi vẫn đông, lại có
thêm hàng quán mới, nhưng sao tôi chẳng thấy vui hơn. Sung sướng quá cho cậu
nào đang được ở với bà, có bà...
Ấy là tình thương. Tình thương là thứ không thể mua được.
(Phong Thu, Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2024, tr. 94-97)
Chú thích:
Phong Thu (1934-2020), tên thật Nguyễn
Phong Thu, quê ở tỉnh Thái Bình. Ông là cây bút chuyên viết truyện cho thiếu
nhi. Các tác phẩm của ông thường có giọng văn giản dị, mộc mạc với cốt truyện
dung dị đời thường mà chứa đựng bài học với nhiều tầng nghĩa sâu sắc. Trong suốt
sự nghiệp, ông có hơn 70 đầu sách, nổi tiếng với các tác phẩm như Hoa
mướp vàng, Xe lu và xe ca, Cây bàng không rụng lá, Cái cúc màu xanh, Bồ nông có
hiếu....
ĐỀ A
Câu
1
(0,5 điểm): Xác định kiểu cốt truyện của văn bản.
Câu
2
(0,5 điểm): Chỉ ra tình huống
cao trào, tạo bước ngoặt trong truyện.
Câu
3
(1,0 điểm): Tìm và nêu chức
năng của thán từ trong câu sau: Thấy hay hay, tôi bước tới ngó xem thì... trời
ơi! “Bỏng! Bỏng ngô!”.
Câu
4
(1,0 điểm): Chỉ rõ đặc điểm cốt
truyện được thể hiện qua mạch sự kiện và nêu tác dụng của kiểu cốt truyện đó.
Câu
5
(1,0 điểm): Nêu cảm nhận của
em về nhân vật bà cụ bán bỏng ngô.
Câu
6
(1,0 điểm): Tìm ít nhất 2 chi
tiết giúp em có cảm nhận như trên về nhân vật.
Câu 7 (1,5 điểm): Qua câu chuyện về bà bán bỏng ngô với những đứa trẻ ở khu phố, em hiểu vì sao người kể chuyện lại khẳng định “Tình thương là thứ không thể mua được”? (Trình bày từ 5 – 7 câu).
ĐỀ B
Câu
1
(0,5 điểm): Xác định kiểu cốt truyện của văn bản.
Câu
2
(0,5 điểm): Chỉ ra bối cảnh
diễn ra câu chuyện.
Câu
3
(1,0 điểm): Tìm và nêu chức
năng của trợ từ trong câu sau: “Bà cụ bán bỏng mà bọn trẻ chúng tôi rất thích
như tôi đã kể, còn có một sự thân thiết nữa chỉ
chúng tôi mới cảm thấy.”
Câu
4
(1,0 điểm): Chỉ rõ đặc điểm cốt
truyện được thể hiện qua mạch sự kiện và nêu tác dụng của kiểu cốt truyện đó.
Câu
5
(1,0 điểm): Nêu cảm nhận của
em về nhân vật “tôi” – người kể chuyện.
Câu
6
(1,0 điểm): Tìm ít nhất 2 chi
tiết giúp em có cảm nhận như trên về nhân vật.
Câu
7
(1,5 điểm):
Qua
câu chuyện, em hiểu vì sao bà bán bỏng ngô nói rằng “Có thứ không thể mua được
cháu ạ...”? (Trình bày từ 5 – 7 câu).
PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)
Viết
bài văn phân tích truyện ngắn Những hạt bỏng ngô của nhà văn Phong Thu.
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
HS có thể trình bày, diễn đạt theo cách
riêng, miễn là đúng hoặc tương tự như đáp án.
|
Câu |
Yêu cầu cần đạt |
Hướng dẫn chấm |
|
1 |
Kiểu cốt truyện: đơn tuyến/ cốt truyện đơn tuyến hoặc Truyện được kể theo cốt
truyện đơn tuyến |
- Cho 0,5 điểm:
Nêu đúng kiểu cốt truyện - Cho 0 điểm:
Nêu sai hoặc không nêu |
|
2 |
Đề A: Tình huống cao trào, bước ngoặt Tình huống bà bán
bỏng ngô không còn xuất hiện |
- Không cần
lí giải vì sao. - Cho 0,5 điểm:
Nêu đúng tình huống, bối cảnh - Cho 0 điểm:
Nêu sai hoặc không nêu |
|
Đề B: Bối cảnh Diễn ra ở một
khu phố đông hàng quán, chỉ toàn những người lớn đến mua và không có trẻ con,
không ai quan tâm đến chúng. |
||
|
3 |
Đề A. - Thán từ: trời
ơi - Tác dụng: thể hiện cảm xúc ngạc
nhiên, vui sướng tột độ của nhân vật khi bất ngờ nhìn thấy bỏng
ngô. |
- Cho 0,5 điểm: Nêu được thán từ/trợ từ - Cho 0,5 điểm: Nêu được tác dụng - Cho 0 điểm
nếu làm sai hoặc không làm. |
|
Đề B. - Trợ từ: chỉ
- Tác dụng:
nhấn mạnh phạm vi đối tượng được hạn định, ở đây là bọn trẻ
- những người duy nhất cảm nhận được sự thân thiết đặc biệt với bà cụ. |
||
|
4 |
- Một mạch sự
kiện: xoay quanh mối quan hệ giữa bà cụ bán bỏng ngô và những đứa trẻ ở một
khu phố. (Hoặc cuộc gặp gỡ với bà cụ bán bỏng ngôn giúp “tôi” nhận ra
giá trị của tình yêu thương; cách cư xử, quan tâm của bà bán bỏng ngô với những
đứa trẻ trên phố.) - Tác dụng:
Giúp câu chuyện diễn ra tự nhiên, dễ theo dõi diễn biến; tập trung làm nổi bật
thông điệp về tình yêu thương mà tác giả muốn gửi gắm. |
- Cho 0,5 điểm: Nêu được ý 1 - Cho 0,5 điểm: Nêu được ý 2 - Cho 0 điểm
nếu làm sai hoặc không làm. |
|
5 |
Đề A: Nhân vật bà
cụ bán bỏng ngô. - Cư xử nhẹ nhàng, tình cảm - Nhân hậu, bao dung và giàu tình yêu thương |
- Cho 0,5 điểm: Nêu được ý 1 - Cho 0,5 điểm: Nêu được ý 2 - Cho 0 điểm
nếu làm sai hoặc không làm. |
|
Đề B: Nhân vật tôi
– người kể chuyện - Tâm hồn nhạy
cảm, quan sát tinh tế, suy nghĩ sâu sắc. - Lễ phép,
ngoan ngoãn, biết nhường nhịn em nhỏ, hiểu chuyện, giàu tình yêu thương. |
||
|
6 |
Đề A: - Bà sẵn
sàng mời mỗi đứa trẻ vài hạt mà không hề khó chịu hay đuổi đi khi chúng không
có tiền mua bỏng; - Bà bán bỏng
ngô rất rẻ, luôn nhón thêm vài hạt sau khi đã đong đầy bát bỏng đổ vào túi; - Thỉnh thoảng
bà gọi cho “tôi” một nắm bỏng ngô; - Bà hiền
lành và luôn khuyên nhủ nhẹ nhàng khi lũ trẻ nói tục, cãi nhau, trèo cây… - Câu nói của
bà: “Có thứ không thể mua được cháu ạ.” |
- Cho 0,5 điểm: Nêu được 1 chi tiết phù hợp - Cho 1,0 điểm: Nêu được 2 chi tiết phù hợp - Cho 0 điểm
nếu làm sai hoặc không làm. |
|
Đề B: - Sung sướng
khi được bà bán bỏng ngô khen; cảm ơn khi được bà cho bỏng. - Nhận ra bà
yêu trẻ con lắm, nghĩ rằng làm cháu bà sẽ rất hạnh phúc; nhận ra lòng tham của
những người lớn khi mua bỏng của bà. - Lời nói: Thế
này thì bà hết vốn mất! - Ngẩn ngơ
khi bà cụ rời đi, chẳng thấy vui dù phố vẫn đông đúc - Hiểu ra rằng
tình thương là thứ không thể mua được. |
||
|
7 |
Đề A. Có
thể tham khảo một số gợi ý sau: -
Tình thương mang giá trị
tinh thần, tình thương chỉ cảm nhận bằng trái tim. - Tình thương là thứ vô giá, không có tiền bạc nào có thể mua được - Bà bán bỏng
ngô chia sẻ tình yêu thương vô điều kiện: cho bỏng khi không có tiền mua,
thêm bỏng khi chúng mua hàng - Bà dạy bảo và quan tâm đến các em nhỏ chân
thành, không xuất phát từ lợi ích vật chất: dặn dò,
nhắc nhở khi chúng cãi nhau, nói tục hay trèo cây |
- Cho 1,5 điểm:
HS giải thích được ý kiến và lí giải qua các chi tiết trong truyện (ít nhất 2
chi tiết) và viết 5 – 7 câu, không mắc lỗi diễn đạt, chính tả - Cho 1,0 điểm: HS giải thích được ý kiến và
lí giải qua các chi tiết trong truyện (ít nhất 1 chi tiết), viết từ 3 – 4
câu, mắc 1 vài lỗi diễn đạt, chính tả. - Cho 0,5 điểm:
HS chỉ giải thích được ý kiến hoặc chi nêu chi tiết truyện - Cho 0 điểm nếu làm sai hoặc không làm. |
|
Đề B. Có
thể tham khảo một số gợi ý sau: -Tình yêu thương và sự quan tâm là thứ không
thể đo đếm bằng tiền. - Những hành
động của bà chứng tỏ rằng tình cảm thực sự không thể mua được. - Bà bán bỏng
ngô chia sẻ tình yêu thương vô điều kiện: cho bỏng khi không có tiền mua,
thêm bỏng khi chúng mua hàng - Bà dạy bảo và quan tâm đến các em nhỏ chân thành, không xuất phát
từ lợi ích vật chất: dặn dò, nhắc nhở khi chúng cãi nhau, nói tục hay trèo
cây |
PHẦN II. VIẾT
Viết
bài văn phân tích một tác phẩm văn học (truyện): 4,0 điểm
|
Yêu cầu
cần đạt |
Điểm |
|
- Đảm bảo yêu cầu về bố cục và dung lượng của một
bài văn nghị luận văn học: +
Kiểu bài
phân tích một tác phẩm văn học (truyện) +
Dung lượng: 600 chữ (cộng – trừ 200 chữ) |
0,25 |
|
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích truyện ngắn “Những hạt bỏng
ngô” của nhà văn Phong Thu. |
0,25 |
|
- Sử dụng kiến thức tiếng
Việt để diễn đạt đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp; diễn đạt sáng tạo,
mới mẻ, dùng từ độc đáo, lời văn giàu hình ảnh, có cảm xúc. - Sử dụng kiến thức văn học
và trải nghiệm cá nhân để phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại;
liên hệ, so sánh với các tác phẩm khác, với bản thân, với bối cảnh… để làm
sáng tỏ vấn đề cần nghị luận. |
0,5 |
|
Thí
sinh có thể triển khai bài làm theo nhiều cách, nhiều hướng khác nhau nhưng cần làm
sáng tỏ được những nội dung cơ bản sau: |
3,0 |
|
1. Mở bài: Giới thiệu ngắn
gọn về tác phẩm (nhan đề, tác giả), nêu ý kiến khái quát về tác phẩm. |
0,25 |
|
2. Thân bài: 2.1. Nêu được ngắn gọn nội dung
chính của truyện Câu chuyện kể về nhân vật "tôi" – một đứa trẻ sống ở thành
phố, và những kỷ niệm gắn liền với bà cụ bán bỏng ngô. Được bà cụ cho bỏng
ngô dù có tiền mua, bọn trẻ ở khu phố trở nên gần gũi với bà và luôn được bà
yêu thương, dạy bảo khi chúng nói tục, cãi nhau hay trèo cây. Nhân vật
"tôi" cảm thấy rất vui và xúc động khi nhận được sự quan tâm đó từ
bà bán bỏng ngô. Bỗng nhiên, bà cụ không còn ra cổng bán bỏng ngô nữa khiến
nhân vật "tôi" cảm thấy trống vắng, buồn bã. Từ đó, “tôi” nhận ra
tình yêu thương không thể mua được. |
0,5 |
|
2.2. Nêu được chủ đề và một số
chi tiết thể hiện chủ đề (không yêu cầu phân tích) - Ca ngợi tình thương giản dị và
sự chia sẻ chân thành, không điều kiện trong cuộc sống. + Những việc làm của bà cụ bán bỏng
ngô dành cho lũ trẻ: cho bỏng ngô, bỏ thêm bỏng, nhắc nhở khi bọn trẻ nói tục,
cãi nhau hay trèo cây + Sự trân trọng, xúc động của
nhân vật tôi trước tấm lòng của bà bán bỏng ngô. - Tình yêu thương chân thành và sự
quan tâm đến người khác chính là những điều quan trọng và giá trị trong cuộc
sống, điều mà tiền bạc không thể thay thế được. + Lời nói của bà cụ: “Có thứ
không thể mua được cháu ạ” + Nhận thức của nhân vật “tôi”
sau khi bà cụ bán bỏng rời đi. |
1,0 |
|
2.3. Chỉ ra và phân tích được một số đặc
sắc nghệ thuật. (HS phân tích được 2 yếu tố) - Cốt truyện đơn tuyến và tình
huống truyện đơn giản: câu chuyện gần gũi, dễ theo dõi. Tập trung làm nổi
bật chủ đề về tình yêu thương và sự sẻ chia trong cuộc sống. - Ngôi kể thứ nhất, nhân vật
xưng “tôi” – người kể chuyện là người tham gia trực tiếp vào câu chuyện
khiến cho câu chuyện chân thật, kể được sâu sắc suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật. - Lời kể gần gũi, giọng văn nhẹ
nhàng, thân thương: góp phần thể hiện tình cảm đẹp giữa bà cụ và những đứa
trẻ, phù hợp với lứa tuổi trẻ thơ. - Nghệ thuật miêu tả nhân vật:
nhân vật được miêu tả qua hành động, cử chỉ, lời nói (bà bán bỏng ngô) và qua
suy nghĩ, cảm xúc (nhân vật “tôi”) - Chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa: + Chi tiết “những hạt bỏng ngô”: biểu
tượng của tình yêu thương vô tư, trong sáng mà bà cụ dành cho lũ trẻ. + Câu nói của bà: “Có thứ không thể
mua được cháu ạ...” đã gói trọn triết lý về tình thương, làm nổi bật
thông điệp nhân văn của truyện. |
1,0 |
|
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm. |
0,25 |
|
Biểu điểm - Điểm 4 – 3,5: Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu
trên, bài viết có cảm xúc. Có thể còn mắc một diễn đạt, dùng từ, chính tả
(không quá 5 lỗi). - Điểm 3: Nhận thức đề đúng, biết phân tích,
cảm nhận tác phẩm theo định hướng vấn đề lí luận, xác định được một số ý
cơ bản nhưng kĩ năng phân tích, cảm nhận vài chỗ còn hạn chế, chưa sâu. Bố
cục rõ. Mắc một số lỗi về diễn đạt, dùng từ, chính tả (không quá 9 lỗi). - Điểm 2: Hiểu yêu cầu của đề nhưng kĩ năng
làm bài còn nhiều hạn chế. Bài làm chủ yếu phân tích, cảm nhận chung chung,
thiếu nhiều ý. Bố cục chưa rõ, mắc không quá 14 lỗi về diễn đạt, dùng từ,
chính tả. - Điểm 1: Hiểu yêu cầu của đề mơ hồ, kĩ năng
nghị luận kém, bài viết lủng củng, phân tích, cảm nhận chung chung,
thiếu định hướng, xa đề. Diễn đạt kém. - Điểm 0:
Lạc đề hoặc không làm bài. |
|
