Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Bài văn nghị luận văn học tham khảo phân tích Sang thu của Hữu Thỉnh, Nghị luận văn học Thiên nhiên trong Sang Thu, Triết lí trong Sang thu
THIÊN NHIÊN VÀ HỒN NGƯỜI LÚC SANG THU
Với các thi nhân, mùa thu lưu dấu ấn
của mình trong những vần thơ đượm một vẻ riêng trong trẻo. Nguyễn Du, Nguyễn
Khuyến, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi,... đều có
những câu thơ, bài thơ tuyệt đẹp. Đến lượt mình, Hữu Thỉnh lại làm cho mùa thu
có thêm hương sắc mới.
Mùa thu đến với anh khá đột ngột và
bất ngờ, không hẹn trước. Bắt đầu không phải là những nét đặc trưng của trời
mây hay sắc vàng hoa cúc như trong thơ cổ điển. Bắt đầu là hương ổi thơm náo nức.
Một chữ “phả” kia đủ gọi hương thơm như sánh(1) lại. Nó sánh
bởi vì hương đậm một phần, sánh còn bởi tại hơi gió se. Hương thơm luồn vào
trong gió được tinh lọc, được cô đặc thêm. Gió mùa thu hào phóng đem chia hương
mùa thu – bấy giờ là hương ổi chín – tới khắp nơi trong vũ trụ. Tại một vùng
quê nhỏ, trong một giây phút nào đó, người viết chợt bắt gặp hương thu và bỗng
sững sờ.
Đã cảm được “hương ổi”, đã nhận ra
“gió se”, hơn thế nữa mắt lại còn nhìn thấy sương đang “chùng chình qua ngõ”.
Những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu đều hiện diện. Thế mà sao tác giả lại viết:
“Hình như thu đã về”? Còn điều chi nữa mà ngờ? Thu đã về thật đấy rồi, sao còn
nghi hoặc? Như đã nói ở trên, cái chính là sự bất ngờ, đột ngột. Do bất ngờ nên
cả khứu giác (hương ổi), cả xúc giác (hơi gió se), cả thị giác (sương
chùng chình) đều mách bảo thu về mà vẫn chưa thể tin, vẫn chưa dám chắc.
Cái bảng lảng mơ hồ chính trong cảm giác “hình như” ấy đã tôn(2) thêm vẻ sương khói lãng đãng lúc
thu sang. Đó là một nguyên nhân. Nhưng sâu xa hơn, ở đây còn bộc lộ nét sang
thu trong hồn người mà sau chúng ta sẽ nói tới.
Hình như thu đã về
Đó là một ấn tượng tổng hợp từ những
cảm giác riêng về hương, về gió, về sương. Từ hương nhận ra gió. Từ gió nhận ra
sương. Nhưng khi phát hiện “sương chùng chình qua ngõ” thì trong sương cũng có
hương, trong sương cũng có gió, và trong sương dường như có cả tình. “Chùng
chình” hay chính là sự lưu luyến, bâng khuâng, ngập ngừng, bịn rịn? Cái ngõ mà
sương đẫm hương, sương theo gió đang ngập ngừng đi qua vừa là cái ngõ thực, vừa
là cái ngõ thời gian thông giữa hai mùa. Phút giao mùa của thiên nhiên ấy, nhìn
thấy rồi, cảm thấy rồi mà sững sờ tưởng khó tin. Do đó, “hình như thu đã về” còn
như là một câu thầm hỏi lại mình để có một sự khẳng định.
Bây giờ nhà thơ mới xem xét thêm cảm
giác sang thu kia có đích thực không, hay chỉ là ảo giác. Thiên nhiên được quan
sát ở một không gian rộng lớn hơn, nhiều tầng bậc hơn. Bức tranh thu từ những
gì vô hình (hương, gió), từ ngõ hẹp (ngõ) chuyển sang những nét hữu
hình, cụ thể (sông, chim, mây) với một không gian vừa dài rộng, vừa cao
vời. Người đọc thích thú với cấu trúc đối tự nhiên:
Sông được lúc dềnh
dàng
Chim bắt đầu vội
vã
Dòng sông không cuồn cuộn dữ dội và
gấp gáp như trong những ngày mưa lũ mùa hạ. Sông êm ả, dềnh dàng, sông đang lắng
lại, đang trầm xuống trong lững lờ như ngẫm nghĩ, suy tư. Tương phản với sông, chim
lại bắt đầu vội vã. Hơi thu lạnh làm cho chúng phải khẩn trương chuẩn bị cho
chuyến bay tránh rét. Ta thường chỉ chú ý vào sự “vội vã” đối rất đẹp với sự “dềnh
dàng”. Xin chớ quên từ “bắt đầu” rất độc đáo ở đây. “Bắt đầu vội vã” thôi, chứ
chưa phải là “đang vội vã”. Phải tinh tế lắm mới có thể nhận ra sự “bắt đầu”
này trong những cánh chim bay.
Dù có sự vội vã của chim (cái vội
vã mới chớm, mới bắt đầu), không khí thu vẫn là không khí thư thái, lắng đọng,
chậm rãi, lâng lâng. Vì thế mà đám mây mùa hạ mới thảnh thơi, duyên dáng “vắt nửa
mình sang thu”. Đám mây như một dải lụa, như tấm khăn voan của người thiếu nữ
trên bầu trời nửa đang còn là mùa hạ, nửa đã nghiêng về mùa thu. Nếu ở khổ thơ
thứ nhất, còn phải có một cái ngõ thực cho sương đi qua để gợi nhớ đến cái ngõ ảo
nối giữa hai mùa, thì ở đây chỉ cần một áng mây bâng khuâng mà có thể thấy bầu
trời đang nhuộm nửa sắc thu. Hình ảnh mây là thực, nhưng cái ranh giới mùa là
hư. Nó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng lạ lùng của nhà thơ. Bầu trời một nửa
thu. Đám mây mùa hạ đang nhuốm sắc thu. Đến một lúc nào đó, nó bỗng ngỡ ngàng
thấy đang bồng bềnh trong bầu trời thu trọn vẹn.
Hai khổ thơ trên rất đẹp về mặt tạo
hình, rất tinh trong cảm nhận, như hai cảnh biếc của một cây thơ lạ. Nhưng khổ
thơ thứ ba là cái gốc của cây thơ đó, là nơi cho hai nhánh thơ trên tựa vào để
khoe sắc, toả hương. Khổ thơ thứ ba đem đến cho bài thơ một vẻ đẹp mới, làm trọn
vẹn thêm cái ý sang thu của hồn người chưa thật rõ ở hai khổ thơ trên.
Trong khổ thơ này, mùa thu được khẳng
định bằng đoán nhận, bằng kinh nghiệm, bằng sự suy ngẫm chứ không phải bằng cảm
nhận trực tiếp như hai khổ thơ trước. Mùa thu không được quan sát từ gần ra xa,
từ thấp lên cao mà thu đang từ từ thu vào trong tâm tưởng, đang lắng lại trong
suy tư:
Vẫn còn bao nhiêu
nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất
ngờ
Trên hàng cây đứng
tuổi.
Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp, bão
giông như mùa hạ, nhưng “mức độ” đã khác rồi. Để ý sẽ thấy cái gì cũng bắt đầu
đi vào chừng mực, vào thế ổn định. Đâu phải là ngẫu nhiên mà mấy từ “cây đứng
tuổi” lại được đặt vào chỗ kết thúc của bài thơ, vốn là một chỗ cực kì quan trọng?
Phải chăng cái đứng tuổi của cây là một cái chốt cửa để qua đó ta mở sang một
thế giới khác, thế giới sang thu của hồn người?
Thiên nhiên trong Sang thu
chủ yếu là lắng lại, chủ yếu là chừng mực, đúng mức. Con người cũng thế. Nhưng
có điều khi sang thu, khi nửa đời nhìn lại thì người ta một mặt sâu sắc thêm,
chín chắn thêm, thâm trầm, điềm đạm thêm, mặt khác người ta phải khẩn trương
thêm, gấp gáp thêm. Thành ra sự vội vã của bầy chim cũng là sự vội vã của con
người nữa đấy. Nhan đề Sang thu vừa bao trùm lại vừa thấm vào từng từ ngữ,
cảnh vật. Hương quả sang thu. Ngọn gió sang thu. Dòng sông, bầy chim, đám mây,
bầu trời sang thu. Nắng sang thu. Mưa sang thu. Sấm chớp, giông bão, cây cối
sang thu. Nhưng trong từng cảnh sang thu của thiên nhiên, đất trời, tạo vật là
lồng lộng hồn người sang thu. Vừa lưu luyến bồi hồi lại vừa nghiêm trang, chững
chạc, vừa sâu lắng lại vừa mở rộng bâng khuâng, vừa khiêm nhường nhưng cũng tự
hào, kiêu hãnh.
(Theo Vũ Nho, Sách Ngữ văn 8, tập 1, Chân trời
sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, 62-65)
CHÚ THÍCH
(1) Sánh: trạng
thái gần như đặc quánh lại.
(2) Tôn: làm nổi bật vẻ đẹp, ưu thế.
